Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Thông điệp của hòa thượng Thích Phổ Tuệ dịp lễ Phật đản 2013



Thông điệp của Đức Pháp chủ GHPGVN

Gửi Tăng Ni, cư sĩ, Phật tử nhân Đại lễ Phật đản Phật lịch 2557, Dương lịch 2013
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính gửi: - Chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư,
                 - Đại đức Tăng Ni, cư sĩ, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Kính mừng ngày Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Đản sinh Phật lịch 2557, năm Quý Tỵ - 2013, tôi kính gửi tới chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức, Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài lời chúc mừng Phật đản đại hoan hỷ, an lạc, và thành tựu mọi Phật sự đem lại sự an vui cho xã hội và Phật pháp trường tồn.
Trong không khí tưng bừng của người con Phật trên khắp hành tinh đón mừng Đại lễ Vesak - tức lễ Tam hợp của Đức Phật, thay mặt chư tôn đức Trưởng lão Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi gửi tới Phật giáo đồ trên toàn thế giới lời chúc hữu nghị, hợp tác, và phát triển vì hòa bình, thịnh vượng cho nhân loại.
Trong năm Phật lịch 2556 - Dương lịch 2012 đã qua, đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam. Với tinh thần: Kế thừa - Ổn định - Phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2012-2017), tiếp tục khẳng định truyền thống đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam. Kính mừng Đại lễ Phật đản Phật lịch 2557 năm nay, đúng vào dịp Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành kính tưởng niệm 50 năm ngày Bồ-tát Thích Quảng Đức và Tăng Ni, Phật tử đã xả thân vì Đạo, vì độc lập dân tộc, bảo vệ truyền thống Phật giáo và văn hóa Việt Nam. Ngọn lửa thiêng của Bồ-tát Thích Quảng Đức đã xua tan bóng tối vô minh, mà xã hội hiện đại ngày nay rất cần sự hiện diện của hành giả với tâm Bồ-tát trải rộng tình thương yêu, trí tuệ trong sáng để diệt trừ lòng tham, tâm ích kỷ, sự hận thù nhằm đem lại hạnh phúc, an lạc và lợi ích cho tất cả mọi người.
Mỗi chúng ta sống có trách nhiệm với đất nước là thể hiện lòng tôn kính Đức Từ Phụ và đền đáp bốn ân trong muôn một, như trong Trung bộ kinh, Đức Phật dạy: “Người vì quốc gia dân tộc làm các điều đúng Pháp, làm các điều chân chính, người ấy là người hiền thiện, chân chính trong xã hội”. Tôi mong muốn Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước, cũng như ở nước ngoài dành thời gian và tập trung trí tuệ tham gia đợt sinh hoạt rộng rãi góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, xây dựng một bản Hiến pháp của dân, vì dân, hướng tới một xã hội phát triển bền vững, công bằng, dân chủ, văn minh.
Kính mừng ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ, Tăng Ni, cư sĩ, Phật tử tinh tấn, nỗ lực trong tu tập Pháp hành, trau dồi Giới - Định - Tuệ, xứng đáng là bậc gương mẫu, phạm hạnh trong xã hội. Thực hiện tốt công tác Phật sự lợi đạo ích đời, đó chính là tâm hương kính dâng lên Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni. Các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tập trung kiện toàn tổ chức các ban, viện chuyên môn để vận hành công tác Phật sự có hiệu quả theo phương châm của Giáo hội và phương hướng hoạt động của nhiệm kỳ. Đặc biệt, chú tâm đến việc chăm lo hoằng pháp và phát triển tổ chức Giáo hội tại các tỉnh miền núi, hải đảo và tại các quốc gia, vùng lãnh thổ phục vụ bà con Phật tử người Việt Nam đang sinh sống và làm việc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Nguyện cầu ánh sáng từ bi, trí tuệ của Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tỏa sáng muôn nơi cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.
Kính chúc quý vị một mùa Phật đản vô lượng cát tường!
ĐỨC PHÁP CHỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Đạo từ của Đức Pháp chủ - Hòa thượng Thích Phổ Tuệ tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (2012-2017)

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng ni,
Kính thưa quý vị Đại biểu khách quý, quý vị Phật tử, trong và ngoài nước,
Thưa toàn thể Đại hội!

Bậc cổ đức có dạy rằng: Phật Pháp lấy kỳ túc làm trang nghiêm. Tôi năm nay đã gần 100 tuổi, thẹn vì mình tài đức không đủ, nhưng lại được Tăng sai vào ngôi vị trọng trách của Giáo hội. Đây là một vinh dự, song cũng là một trách nhiệm lớn lao. Tôi thành kính tri ân công đức chư tôn thiền đức tăng ni và toàn thể Đại hội đã một lần nữa đặt niềm tin và giao phó trọng trách cho tôi cùng với chư tôn thiền đức hoằng dương chính pháp, xiển dương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tại Đại hội này, tôi có lời tán thán khen ngợi công đức tu hành, công đức giữ gìn giới hạnh, và công đức hoằng hóa phục vụ chúng sinh đồng hành cùng dân tộc, ích Đạo lợi Đời của quý Hòa thượng, Thượng tọa, Tăng Ni trong Giáo hội và tín đồ Phật tử Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Kính thưa toàn thể Đại hội!
Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với Tăng ni, Phật tử chúng ta mà còn có ý nghĩa đối với cộng đồng xã hội người Việt Nam ở trong nước và ở ngoài nước. Bởi Đại hội kỳ này là Đại hội nối tiếp chặng đường sau 30 năm thống nhất Phật giáo thành lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Qua 6 nhiệm kỳ, chúng ta có đủ thời gian để đánh giá một cách khách quan về những kết quả, thành tựu, cũng như thấy được những hạn chế, tồn tại của chặng đường đã qua. Điều này đã được thể hiện trong các văn kiện trình tại Đại hội. Song, Tôi chỉ nhấn mạnh một điều với quý vị Tăng ni, Phật tử là mọi sự thịnh suy, tốt xấu đều phụ thuộc ở chính chúng ta. Cho nên Tăng ni, Phật tử phải tự thân để làm tốt mọi Phật sự của mình thật đúng nghĩa, không ngụy biện với tinh thần tùy duyên nhưng bất biến, bất biến tùy duyên. Có làm được như vậy mới xứng đáng với lịch đại tổ sư và các bậc tiền bối đã hy sinh cả đời mình vì Đạo Pháp, vì dân tộc!

Hôm nay trước sự hiện diện đông đủ lãnh đạo các cấp giáo hội tại hội trường này, Tôi xin nhắc lại lời dạy của Đức Từ Phụ để chúng ta làm kim chỉ nam cho các hoạt động Phật sự trong nhiệm kỳ tới:
“Này các tỷ khiêu, khi nào chúng tỷ khiêu tụ họp trong niềm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các tỷ khiêu, chúng tỷ khiêu sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.
Này các tỷ khiêu, khi nào chúng tỷ khiêu có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tiến, có chính niệm, có trí tuệ, thời này các tỷ khiêu, chúng tỷ khiêu sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
“Này các tỷ khiêu, khi nào các vị tỷ khiêu sống với bạn đồng tu tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thụ trì giới luật đúng với sa môn hạnh, những giới luật không bị gãy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời nay các tỷ khiêu, chúng tỷ khiêu sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.
Đức Từ Phụ đã dạy chúng ta như vậy, cho nên Tôi mong rằng Quý liệt vị hãy vì sự xương minh của đạo pháp, vì sự hưng thịnh của dân tộc mà khắc cốt ghi tâm để mỗi Phật sự của Giáo hội chúng ta đều thành tựu được những kết quả tốt đẹp, để Phật giáo chúng ta có vị thế xứng đáng trong lòng dân tộc, cùng với Phật giáo đồ trên toàn thế giới đoàn kết, hòa hợp góp phần vào sự nghiệp hoằng dương Phật Pháp, bảo vệ hòa bình đem lại hạnh phúc đích thực cho nhân loại.
Nam mô giáo chủ Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh!

Thõng tay vào chợ

Chúng ta đã được các ngài hướng dẫn chỉ bày và đánh thức mọi trói buộc thể hiện trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Qua đó vọng tâm phân biệt chấp trước làm chủ tạo ra mọi cái nhìn sai lạc cho mọi hành động; theo đó nghiệp nhân được hình thành và hiện hữu qua cái gọi là quá khứ, hiện tại, vị lai trong ba cõi sáu đường.
Trong khi đó, cũng cuộc sống này có những lúc những hành động, lời nói của chúng ta được thể hiện ra như là vô tình bất chợt, nên chúng ta không để ý chúng; vì chúng không bị trí năng ý chí can thiệp vào nên trở thành vô tác dụng đối với trí năng phân biệt của chúng ta. Do đó, chúng trở thành như là không hiện hữu giữa cuộc sống của chúng ta. Nhưng thật ra những thể hiện này chính là những cái đáng được thấy, đáng được biết. Cái đó các ngài dùng để chỉ thẳng cho chúng ta, vì chúng tự thể hiện cái tâm vô phân biệt. Cái được thể hiện này chúng tôi tạm gọi là cái bản lai diện mục xưa nay của mỗi chúng ta, cái bản lai diện mục này vẫn thường thể hiện ra bên ngoài, trong cuộc sống của chúng ta, một cách trần truồng như một vô vị chân nhân, thường hay ra vào nơi mặt mũi trong một cục thịt đỏ au của mỗi người chúng ta như ngài Lâm Tế đã bảo. Cái mà thường ngày nó ra vào đó, chính là cái mà ngài Huệ Năng đã từng chỉ dạy cho Huệ Minh thượng tọa khi ông hỏi pháp. Huệ Năng bảo:
- Nhà ngươi đã vì pháp mà đến, thì hãy dẹp bỏ các duyên chớ sanh một niệm, ta sẽ vì nhà ngươi mà nói rõ trong giây lát.
Ngài bảo tiếp:
- Không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh thượng tọa?
Ngay câu nói này Huệ Minh đại ngộ.
Huệ Minh đã ngộ được cái chi đây? Phải chăng ông đã nhận ra được cái bản lai diện mục xưa nay của chính mình qua: “Không sanh một niệm và không nghĩ thiện không nghĩ ác?” Ở đây, vừa phủ định vừa khêu gợi để cho người đối thoại tự nhận ra mình, theo đó Huệ Minh đã đủ lanh cơ để nhận diện. Lúc này là lúc chính cuộc sống vô sự của chúng ta được thể hiện qua biểu tượng vô phân biệt. Không phải ‘Chớ sanh một niệm, không nghĩ thiện không nghĩ ác’ chúng không có bất cứ một sự sinh hoạt nào, mà chính nó là nếp sống, bề ngoài xem như là tiêu cực, nhưng thật sự bên trong chúng mang một tính tích cực vượt thoát. Chính vì tính tích cực vượt thoát này, nên trong mỗi hành động của chúng ta được thể hiện tự tại không bị trói buộc hay lệ thuộc vào bất cứ khái niệm hóa nào. Do đó, khi tâm vô sự của các thiền sư hay của chúng ta thể hiện thì đối với các duyên giờ đây không còn là đối tượng để “đoạn tuyệt” nữa, vì tự thân chúng không mang một rắc rối chướng ngại nào cả, mà chúng luôn luôn tự dung thông vô ngại đối với mọi pháp, như Linh Hựu đã trả lời nhân Huệ Tịch hỏi:
- Trăm ngàn muôn cảnh cùng lúc đến thì phải làm thế nào?
Linh Hựu đáp:
- Xanh chẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn; các pháp tự chúng ở vào địa vị của chúng, chẳng can hệ gì đến công việc của ta.
Khi thiền sư không khởi tâm phân biệt đối với cuộc sống, thì đối với các duyên bên trong hay bên ngoài, giờ đây trở thành không can hệ và lệ thuộc nhau, vì tự thân chúng (tâm và vật) không mang bất cứ một ý niệm thủ-xả, thường-đoạn, có-không, dài-ngắn, tốt-xấu, một-khác, sanh-diệt hay bất cứ một hiện tượng nào khi chúng hiện hữu hay biến dịch, mà qua đó chúng nói lên được một sinh hoạt sống động linh nghiệm qua cuộc sống trong cuộc chơi: “Tùy duyên pháp hiệp, xứng vật dụng thành. Tùy duyên pháp biến, xứng vật dụng thông”. Toàn thể cuộc sống này được hiện hữu trong cái Hiệp và Biến không mang bất cứ nhãn hiệu nào; chúng không thuộc về tâm hay vật, hay không phải tâm-vật, mà chúng thể hiện cái nhiệm mầu dung nhiếp một cách sinh động vô ngại.
Ở đây, chính cái vô sự của toàn thể cuộc sống đã nói lên được cái lẽ đang hiệp-biến tùy duyên, mà chúng tôi tạm gọi là “đương niệm” trong cái toàn thể “đang là” của chúng xuyên qua cái cá biệt không can hệ. Từ đó, chúng quyết định được sự giải thoát toàn thể cuộc sống của thiền sư qua cái nhìn trói buộc của chúng ta như là xa lạ, như vua Lý Thái Tôn hỏi Thiền Lão, một thiền sư Việt Nam:
Lý Thái Tôn hỏi Thiền Lão:
- Hòa thượng ở núi này được bao lâu?
Thiền Lão đáp:
- Chỉ biết ngày tháng này, ai rành Xuân Thu trước.
Vua hỏi:
- Hằng ngày làm việc gì?
Thiền Lão đáp:
- Trúc biếc hoa vàng không ngoài cảnh,  trăng trong mây bạc hiện toàn chơn.
Vua hỏi:
- Có ý chỉ gì?
Thiền Lão đáp:
- Nhiều lời sau không ích!
Con người đang ở trong hiện tại mà không biết sống cho hiện tại, luôn luôn sống cho quá khứ và tương lai ở bên ngoài giây phút hiện tại này! Ở đây, họ đã đánh mất chính họ, nghĩa là họ đã đánh mất tất cả cái toàn thể ngay bây giờ và tại đây mà họ không biết. Họ luôn luôn muốn tìm hiểu chúng ngoài cuộc sống này, họ loại bỏ cuộc sống nhiệm mầu hiện có nơi họ. Vì vậy các Thiền sư luôn luôn dùng cuộc sống chính mình và môn hạ, để chỉ cho họ cách nhìn cách sống nơi chính dòng sống nơi mỗi người đang thể hiện, mà họ không nhận thấy, như thiền sư Đạo Ngộ đã dạy môn đệ mình.
“Một hôm Sùng Tín thưa Đạo Ngộ:
- Từ ngày con vào đây cho đến giờ, mà chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu!
Đạo Ngộ bảo:
- Từ ngày nhà ngươi vào đây, ta chưa từng chưa chỉ dạy tâm yếu cho nhà ngươi!
Sùng Tín thưa:
- Chỉ dạy ở chỗ nào?
Đạo ngộ bảo:
- Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp; ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận; ngươi xá lui, ta vì ngươi mà gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu đây!?
Gã cúi đầu lặng thinh giây lâu. Đạo Ngộ bảo:
- Thấy thì ngay đó thấy liền, suy nghĩ liền sai.
Ngay câu nói này sư được khai ngộ.”
Tâm yếu là gì? Ở đâu? Tại sao phải tìm kiếm? Trong khi cuộc sống đơn sơ bình thường hằng ngày chúng ta lại bỏ quên, không màn để mắt đến để nhìn ra cái như thật chính nó như ngài Nam Tuyền đã từng dạy: “Bình thường tâm thị Đạo” (Tâm bình thường là Đạo). Ở đây, tâm bình thường luôn luôn được thể hiện ra bên ngoài, trong những hành động bình thường hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta, mà chúng ta đã bỏ quên, chỉ vì chúng xuất hiện từ tâm vô phân biệt, do đó cái hiệu quả tác dụng là vô sự đối với trí năng phân biệt, thành ra cái hậu quả trói buộc cũng theo đó trở thành không hiện hữu. Đó cũng chính là cái kỳ đặc của Thiền sư Tịnh Không (Việt Nam) trả lời cho một vị tăng.
“Tăng hỏi Tịnh Không:
- Hoà thượng có việc kỳ đặc, tại sao không nói cho người học biết?
Tịnh Không đáp:
- Ông thổi lửa tôi vo gạo, ông khất thực tôi cầm bát, ai phụ ông đâu?!
Nghe qua vị tăng liền tỏ ngộ.”
Qua những trích dẫn trên, cho chúng ta một cái nhìn mới về tâm. Khi tâm vô phân biệt được thể hiện ra bên ngoài, thì hành động vô sự không có tác dụng đối với trí năng; do đó, cuộc sống của chúng ta không bị trói buộc đối với bất cứ duyên nào, cho dù là ở bên trong hay bên ngoài nữa. Chính cái nhìn mới toanh này, giờ đây mới thấy được cuộc sống phiêu bồng vô ngại của các Thiền sư trong cái lẽ tùy duyên. Ở đây, vì tùy duyên nên vấn đề buông-giữ không còn tác dụng nữa; cho nên cái “đang là” vô phân biệt đó chính là mặt động của phản diện tĩnh của “đương niệm” chứ không gì khác hơn. Động (dụng) tĩnh (thể) của một toàn thể - chúng  không phải là một cũng không phải là khác. Do đó, sự xuất hiện của chúng giờ đây mang một bộ mặt mới toanh, hoàn toàn không bị trí năng phân biệt can thiệp vào, và sự thể hiện này trở thành toàn thể sung mãn căn đầy nhiệm mầu tự tại. Giây phút này là giây phút đúng lúc của bắt đầu và chung cuộc “đang là” của cuộc sống của các Thiền sư mà qua đó chúng xuất hiện như chính chúng ta đã từng thấy trong cuộc sống bình thường hằng ngày của chúng ta.
“Một hôm Thúy Vi dâng lễ vật cúng dường các vị A-la-hán, một ông tăng hỏi sư:
- Đơn Hà đã cho Phật gỗ vào lửa, sao thầy còn lễ bái A-la-hán?
Sư đáp:
- Trong lửa mà chẳng cháy. Về việc lễ A-la-hán hãy để một mình ta.”
Ở đây, rõ ràng vì tâm phân biệt của phàm tăng cho nên việc lễ bái A-la-hán trở thành có vấn đề trở ngại, trong cái lệ thuộc thủ đắc bởi hành động của Đơn Hà, và cho đó là một biện pháp khả thi để thủ đắc, chính vì phân biệt cho nên có trở ngại. Ngược lại, các vị thiền sư vì không có chỗ khả đắc, cho nên việc làm của các ngài trở thành tự tại như trường hợp Vân Nham dạy chúng.
“Vân Nham dạy chúng:
- Có đứa trẻ nhà kia, khi hỏi đến không gì không đáp được.
Động Sơn Lương Giới hỏi:
- Ở trong đó kinh sách nhiều hay ít?
Đáp:
- Một chữ cũng không.
Hỏi:
- Sao biết được nhiều vậy?
Đáp:
- Ngày đêm chưa từng ngủ.
Hỏi:
- Làm một việc được không?
Đáp:
- Nói được nhưng chẳng nói.”
Ngày đêm chưa từng ngủ là con đường Đại định của “đương niệm” hiện tiền trong tùy duyên bất biến. Chính nhờ tùy duyên bất biến này, nên khi hỏi đến không gì không đáp được, không gì không làm được, vì chúng thể hiện con đường tự tại vô phân biệt. Đó cũng là con đường mà ngài Mã Tổ - Đạo Nhứt đã áp dụng vào phương pháp dạy người của ngài.
“Mã Tổ bảo:
- Ta có khi dạy Y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy Y nhướng mày chớp mắt; có khi nhướng mà chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt không là phải. Ngươi làm sao?
Ngay câu nói này Dược Sơn khế ngộ, bèn lễ bái.
Mã Tổ hỏi:
- Ngươi thấy đạo lý gì mà lễ bái?
Dược Sơn thưa:
- Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.
Mã Tổ bảo:
- Ngươi đã biết như thế thì nên tự khéo léo giữ gìn!”
Duyên phải duyên không phải tự chúng không có ý phân biệt, cho đến tâm như một con trâu sắt cũng vậy, và chính con muỗi đang thể hiện cái “vô trụ xứ” của mình trên con trâu sắt. Ở đây, mọi việc trở nên thông suốt, tự tại không trói buộc nhau. Lúc này là lúc tự do được thể hiện trọn vẹn trong dòng sống, do đó ở đây không gì không là Đạo, như Huệ Tịch và Trí Nhàn thể hiện qua cuộc trắc nghiệm của Linh Hựu.
“Linh Hựu vừa thức giấc, Huệ Tịch vào thăm hỏi, Linh Hựu liền xoay mặt vào vách, Huệ Tịch thưa:
- Hòa thượng không được như vậy!
Linh Hựu trỗi dậy bảo:
- Ta vừa nằm mộng thấy một điềm, con có thể vì ta đem lại xem.
Huệ Tịch liền lấy thau múc một thau nước đem lại cho sư. Sư rửa mặt xong, giây lát Hương Nghiêm Trí Nhàn cũng đến thăm hỏi, Sư bảo:
- Vừa rồi ta nằm mộng thấy một điềm, Huệ Tịch Ngưỡng Sơn đã vì ta đem lại cho ta xem rồi, nhà ngươi cũng nên đem lại cho ta xem thử !
Hương Nghiêm liền đi rót một chung trà mang đến.
Sư bảo:
- Hai con thấy hiểu còn hơn cả Xá-lợi-phất.”
Giờ đây bảo gì không là Đạo. Trắng đen, vàng tía, xanh lam đỏ thắm, ngắn dài, tốt xấu là gì đi nữa mà tự chúng không có niệm phân biệt, thì đối với người thể hiện tâm vô phân biệt có gì là sai trái chướng ngại đâu. Xuôi ngược tùy duyên, xuống lên tự tại nào buộc nào vướng, tâm vật nhất như ngoài tâm không khác.
Ở đây, mọi chuyện không gì là không nhiệm mầu dung nhiếp, như Đại Mai đã thể hiện trong cuộc sống của chính mình khi được Mã Tổ trắc nghiệm.
“Mã Tổ nghe Đại Mai lên núi ở, bèn sai một người đến thăm dò, tăng đến hỏi Đại Mai:
- Hòa thượng gặp Mã Tổ được cái gì mà về ở núi này?
Sư đáp:
- Mã Tổ nói với tôi ‘tức tâm tức Phật’, tôi bèn ở núi này.
Vị tăng thưa:
- Gần đây Mã Tổ nói ‘phi tâm phi Phật’.
Đại Mai nói:
- Ông già mê hoặc người chưa lúc nào nghỉ. Mặc ông ‘phi tâm phi Phật’, tôi chỉ biết ‘tức tâm tức Phật’.
Vị tăng trở về thưa lại Mã Tổ những lời sư nói. Mã Tổ bảo với đại chúng:
- Trái Mai (me) đã chín rồi.”
Khi tâm thức đã chín mùi bùng vỡ thì còn gì để chướng ngại trong cuộc sống nữa. Giờ đây dù nói ngược nói xuôi, nói phải nói quấy đều là những thể hiện nhiệm mầu của cuộc sống, có gì sai trái đâu. Khi mê thì có tâm có Phật, có mọi thứ thể hiện đối lập ngăn cách nhau, còn khi ngộ ra rồi chúng đâu có ngăn cách sai biệt nữa. Vì vậy mà việc thể hiện hằng ngày của các thiền sư trong cuộc sống luôn luôn tự tại thong dong, như Thiền sư Viên Chiếu (Việt Nam) đã trả lời nhân một vị tăng hỏi:
“Tăng hỏi Viên Chiếu:
- Nếu gặp lúc cấp bách đôi đường thì sẽ xử sự như thế nào?
Viên Chiếu đáp:
- Trượng phu theo phóng khoáng, trăng gió hãy vui chơi.”
Giờ đây cái gì không thể hiện việc vui chơi. Tất cả giờ đây đều trở thành một trò đùa không hơn không kém. Một trò đùa vô tư lự, không mang bất cứ một giá trị nào được áp đặt lên chúng, để biến chúng trở thành cái xác chết cứng nhắc không hồn, mà chúng luôn luôn thể hiện một cách linh động uyển chuyển, tùy theo duyên khởi hiệp-biến mà thể hiện cái tâm vô phân biệt, không dính mắc đối với cuộc sống. Ở đây, sẽ rõ ràng hơn trong cung cách thể hiện tâm không phân biệt vượt thoát trong cuộc sống được Linh Hựu và Vân Nham thể hiện qua cuộc đối thoại sau.
“Linh Hựu hỏi Vân Nham:
- Nghe nói huynh ở Dược Sơn lâu lắm phải không?
Vân Nham đáp:
- Phải.
Linh Hựu hỏi:
- Tướng Dược Sơn đại nhơn như thế nào?
Vân Nham đáp:
- Sau khi niết-bàn mới có.
Linh Hựu hỏi:
- Sau khi niết-bàn mới có là thế nào?
Vân Nham đáp:
-Rưới nước chẳng dính.
Vân Nham hỏi lại Linh Hựu:
- Bách Trượng đại nhơn tướng thế nào?
Linh Hựu đáp:
- Chững chạc vòi vọi, sáng suốt rực rỡ. Trước tiếng chẳng phải tiếng, sau sắc chẳng phải sắc. Con muỗi đậu trên trâu sắt, không có chỗ cho huynh cắm mỏ.”
Cái gì rưới nước chẳng dính, cái đó không bị nhiễm; cái gì cắm mỏ vào mà không có chỗ để cắm, thì cái đó không rỉ lậu. Ở đây tâm vô phân biệt của các thiền sư được thể hiện một cách tự do tự tại không nhằm bất cứ một chủ đích nào cả. Do đó cũng không có bất cứ một hậu quả nào khả dĩ tác động trong tương lai. Vì vậy hệ thống nhân-quả sẽ không còn can hệ, lệ thuộc vào cuộc sống của các ngài, mặc dù các ngài sống với nó như muôn ngàn các duyên khác. Đây cũng là nếp sống mà thiền sư Thạch Đầu đã từng tuyên bố.
“Một hôm Thạch Đầu tuyên bố như vầy:
- Dù các ông có nói gì, các ông có hành xử như thế nào, nhưng những điều như thế vẫn không liên hệ gì đến cái đó.
Duy Nghiêm ở Dược Sơn luận giải lời tuyên bố ấy như vầy:
- Ngay cả khi các ông không nói gì, ngay cả khi các ông không hành xử theo cách nào hết, nhưng những điều như thế cũng không liên hệ gì đến cái đó.
Thạch Đầu bảo:
- Ở đây dù muốn cắm mũi kim cũng chẳng có chỗ.
Duy Nghiêm nói:
- Ở đây giống như người trồng hoa trên đá.”
Có nói hay không nói, hành xử hay không hành xử, thì cũng không liên hệ đến cái đó. Vậy, cái đó là cái gì? Trong khi chúng vẫn luôn luôn hiện hữu tất cả thời tất cả nơi, mà vẫn không có chỗ để cắm mũi kim, không có chỗ để bám rễ, hay chính hoa không thể nào có thể ra rễ được. Ở đây, nếu có chỗ để cho hoa bám rễ thì điều đó sẽ báo hiệu cho chúng ta một sự lệ thuộc đang hiện hữu; hay có chỗ để cắm được mũi kim thì chính chỗ đó đang rỉ lọt. Cả hai điều này nói lên tánh cách mất tự tại của cuộc sống chúng ta. Nhưng ở đây thiền tông luôn luôn thể hiện nếp sống tự tại giải thoát ngay trong dòng sống. Do đó những gì được thể hiện ra bên ngoài mà mang tánh cách trói buộc lệ thuộc thì không phải là nếp sống của thiền tông. Cho nên từ điều kiện không điều kiện này, đã tạo ra bước đi phiêu bồng tự tại. Các thiền sư tự thân đã không bị lệ thuộc vào các duyên, thì các duyên tự chúng cũng chẳng can hệ gì đến các ngài. Do đó, cho dù chúng đã bị tâm phân biệt con người áp đặt lên tự thân chúng những nhãn hiệu mà tự thân chúng không có, thì đối với cái hậu quả không hậu quả của vô sự giữa chúng và các thiền sư sẽ trở thành tự tại vô ngại.
Ở đây, mọi giá trị luân lý đạo đức theo cuộc sống thế tục của nhân-quả nhị nguyên, đều bị hành động của các thiền sư vô hiện hóa, bởi sự thể hiện vô phân biệt vượt thoát này, mặc dù đối với giá trị nhân-quả của chúng ta là một điều tối kỵ. Đó là bước đi tự tại được thể hiện qua cuộc sống, vừa đối trị vọng chấp, vừa đem lại hiệu quả chuyển đổi đột biến trong lối nhìn và bước đi kế tiếp của hành giả. Ở đây, mọi trở ngại mâu thuẫn sai biệt đều không hiện hữu, nên vấn đề thắc mắc tại sao như thế này mà không như thế kia hay ngược lại như ngài Triệu Châu đã thể hiện.
“Triệu Châu hỏi một vị tăng mới đến:
- Đã từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
- Đã từng đến.
Sư bảo uống trà đi. Sư lại hỏi một vị tăng khác:
- Đã từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
- Chưa từng đến.
Sư bảo uống trà đi. Sau đó viện chủ hỏi sư:
- Vì sao đã từng đến dạy uống trà và chưa từng đến cũng lại dạy uống trà?!
Sư gọi:
- Viện chủ!
Viện chủ đáp:
- Dạ!
Sư bảo:
- Uống trà đi!”
Việc uống trà là một việc bình thường trong việc đói ăn khát uống, trong những cuộc tiếp xúc gặp gỡ nhau, chứ có chi lạ đâu; chúng cũng chẳng can hệ chi đến việc đã từng đến hay chưa từng đến. Vậy thì việc viện chủ nêu lên thắc mắc đó là tự treo tâm mình lên trên cầu sanh tử, trong khi tách nước trà đang ở trên tay mà vẫn bị chết khát. Thử hỏi ở đây, ai có thể vì viện chủ, mà trong một hớp uống hết nước sông sanh tử thay cho ông được không? Nếu được thì cho dù lão Triệu Châu có làm chi nữa cũng chẳng can hệ chi đến chúng ta, và lúc này là lúc đạt được bước đi tự tại.
Để thay lời kết luận chúng tôi xin trích dẫn, những lời tự thuật của thiền sư Lâm Tế sau đây:
Hỡi các đạo lưu, kẻ hiện lúc này, trước mắt chúng ta, sáng tỏ đơn độc, rõ rõ ràng ràng, đang lắng nghe, kẻ này chẳng trệ ở bất cứ chỗ nào, thông quán mười phương tự tại trong ba cõi. Vào tất cả cảnh giới sai biệt, mà cũng không hề bị chuyển biến. Kẻ ấy trong một sát-na đi vào pháp giới. Gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La-hán nói La-hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ.
Vào khắp mọi nơi, lang bạt các quốc độ, giáo hóa các chúng sanh thế mà chưa từng lìa nhất niệm. Ở bất cứ nơi nào cũng thanh tịnh, ánh sáng thấu nhập mười phương, vạn pháp nhất như...
Duy có kẻ hiện đang nghe pháp trước mắt các đạo lưu, vào lửa không bị thiêu, vào nước chẳng bị chìm, vào ba nẻo địa ngục như vào vườn ngắm cảnh, vào cõi của ngạ quỷ súc sanh mà chẳng phải chịu báo. Tại sao lại như vậy? Vì chẳng có pháp nào để ghét vậy.
Nếu ông yêu thánh ghét phàm, ông hẳn bị trôi nổi trong biển sanh tử. Phiền não do tâm mà có; vô tâm phiền não trói buộc ai? Đừng bận phân biệt chấp tướng, tự nhiên đắc đạo trong khoảnh khắc. Ông còn cho rằng bôn ba theo kẻ bên cạnh mà học được, trong ba kỳ kiếp rốt cuộc thế nào cũng quay về sanh tử. Chẳng bằng vô sự quay về chốn tòng lâm, lên góc giường mà ngồi khoanh chân...
Sư núi tôi ở đây chẳng luận tăng tục. Nhưng có kẻ đến tôi đều biết rõ hắn, dù hắn từ nơi nào lại. Hễ có danh văn ngôn cú, thảy đều mộng huyễn. Tôi chỉ thấy con người cỡi các cảnh, kẻ ấy huyền chỉ của chư Phật vậy...
Nếu có người đến hỏi tôi là muốn cầu Phật, tôi tức ứng hợp cảnh thanh tịnh mà xuất hiện. Có người hỏi tôi Bồ-tát, tôi tức ứng hợp với từ bi mà xuất hiện. Nếu có người đến hỏi tôi về Bồ-đề, tôi tức ứng hợp với cảnh tịnh diệu mà xuất hiện. Cảnh thì vạn loại sai biệt, nhưng Nhân thì không sai biệt. Cho nên ứng vật hiện hình, như mặt trăng phản chiếu trong nước...
Hỡi các đạo lưu! Sư núi tôi thuyết pháp, thuyết pháp gì vậy? Ấy là thuyết tâm địa pháp, cái pháp đi vào phàm, đi vào thánh, đi vào tịnh, đi vào uế, đi vào chân, đi vào tục. Điểm chính yếu là các ông (Nhân) không phải chân tục phàm thánh, mà các ông có thể gán cái danh cho chân tục phàm thánh. Chân tục phàm thánh đối với người (Nhân) không gán cho cái danh được. Hỡi các đạo lưu! Như các ông mà nắm được thì tha hồ mà dùng nó. Đừng có chấp trước vào danh tự. Ấy gọi là huyền chỉ...
Như chỗ dụng xứ hôm nay của sư núi tôi, dù thành dù hoại đều ứng hợp với chân tri. Ngoạn lộng thần biến đi vào tất cả cảnh mà đâu đâu cũng như vô sự. Cảnh chẳng ảnh hưởng được đến tôi. Như có kẻ đến cầu gì nơi tôi, tôi chỉ ra mà xem hắn. Hắn không nhận được tôi, tôi bèn mặc một vài thứ áo, những người học bèn rơi vào ngôn cú của tôi mà làm ra hiểu biết. Khổ thay những kẻ ngốc nghếch mù quáng, kẻ không có mắt bám vào y phục tôi mặc, mà nhận là xanh vàng đỏ trắng. Ta bèn cởi bỏ mà vào cảnh giới thanh tịnh, kẻ học khi thấy bèn sinh ham thích; tôi lại cởi bỏ nữa, kẻ học liền ngơ ngác hoang mang chạy quanh nói rằng tôi vô y. Tôi bèn quay qua hắn mà bảo: “Ông có biết cái Người mặc áo đó chăng?” Hốt nhiên họ quay đầu lại mà nhận ra tôi.
Này các đại đức, đừng nhận lầm y phục, y phục không tự quyết được, Người mặc được y phục: Có thanh tịnh y, có vô sanh y, có bồ-đề y, có niết-bàn y, có Tổ y, có Phật y. Này các đại đức, chúng ta chỉ có âm thanh, danh từ ngôn cú, thảy đều là y phục mà chúng ta thay đổi. Từ cái khí hải trong bụng đánh vào răng, gõ vào khẩu cái thành cú nghĩa. Như thế ta mới rõ rằng chỉ là huyễn hóa.
Này các đại đức, bên ngoài phát ra cái âm thanh của nghiệp ngôn ngữ, bên trong biểu hiện tâm sở pháp, để suy nghĩ mà khởi niệm, thảy đều là y phục mà ta mang. Sao các ông lại nhận cái y phục mà người ta mang là thực tại. Dù có trải qua số kiếp như vi trần, cũng chỉ là kẻ không hiểu y phục thôi. Các ông sẽ tuần hoàn trong ba cõi, luân hồi trong sanh tử. Như thế sao bằng được vô sự. Cổ đức nói:
“Gặp nhau mà chẳng biết,
  Cùng nói chẳng biết tên”.
(Tương phùng bất tương thức,
 Cộng ngữ bất tri danh).
Nguồn: Phụ Bản Nghiên Cứu Phật học số 4; phapluanonline.com

Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (tiếp theo)

Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ trả lời phỏng vấn website Phật tử Việt Nam: Tu gì, tu như thế nào thì khởi phát tâm đó
Vào lúc 5 giờ sáng ngày 22/01/2007, tức Rằm tháng Chạp năm Đinh Hợi tại Tổ đường chùa Ráng - Viên Minh tự, xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, Trang tin điện tử Phật tử Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ - Tổ Ráng - Đệ Tam Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhân dịp Tết cổ truyền Mậu Tý 2008 đang đến gần. Được sự đồng ý của Đức Pháp chủ, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn bài trả lời phỏng vấn trực tiếp đó.
Phật tử Việt Nam: Bạch Tổ, sau một thời gian tham gia các hoạt động tại Đại hội VI vừa qua tại Hà Nội, nay đã trở về chốn Tổ chùa Ráng, tình hình sức khỏe và sinh hoạt thường nhật của Tổ như thế nào ạ?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Một nồi bánh trưng nữa là tôi đã sang tuổi 93, ở tuổi này khó tránh khỏi bệnh già. Được như thế này cũng coi là có phúc báo rồi.
Lên Hà Nội gần 1 tuần, giao tiếp, đi lại, ăn uống, họp hành ở môi trường khác lạ cũng làm cho tôi mệt mỏi. Về đây, quý khách các nơi vì mến mộ đến thăm hỏi cũng nhiều, tiếp đón sao cho chu đáo là đã thấy tấm thân rệu rã. Kết cục là tôi phải nằm nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng mất mươi ngày mới phục hồi được như thường.
Còn sinh hoạt hàng ngày thì đơn giản, tự nhiên như nếp sống vốn có của nhà chùa, theo nghi quỹ mà chư Tổ đã chế ra và duy trì.
Tuy nhiên, tôi đã già lão nên cũng gia giảm đôi chút cho phù hợp. Tuổi già ngủ không nhiều, thường qua nửa đêm thì tỉnh, quanh quẩn trong nhà Tổ, 4 giờ thì đánh thức người nhà chùa dậy, ai vào việc nấy. Còn tôi, ngoài thời gian xem kinh sách, niệm Phật, lên chùa, tiếp khách, chỉ bảo mấy vị học hành tu tập, thời giờ còn lại thì làm việc chân tay, đóng cái đinh, sửa cái ghế, tưới cây, khơi rãnh… Rồi soi xét mấy vị làm việc, thấy góp được ý gì thì góp. Nói chung chỉ làm được việc lặt vặt thôi. Ăn uống thì có gì ăn nấy. Buổi tối 7 giờ thì đi ngủ.
Phật tử Việt Nam: Là Tăng sĩ được Tăng già Việt Nam giao phó giữ gìn ngôi vị Pháp chủ GHPGVN, Tổ có nhận định chung như thế nào về thực trạng của Giáo hội hiện nay?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Ngôi vị Pháp chủ theo nghĩa cứu cánh tuyệt đối thì duy chỉ có 1 vị có đầy đủ phúc đức, trí tuệ để gìn giữ, đó là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Nay chúng tôi, vì tập thể chư Tăng ủy thác cho nên phải gắng gượng giữ gìn. Điều này, đối với pháp tương đối của thế gian có thể coi là sở đắc, còn với pháp tuyệt đối xuất thế gian thì vô sở đắc mới là bản nguyện của chúng tôi. Chúng tôi không dám lấy việc lạm giữ ngôi vị cao quý này làm vinh hạnh.

Nhận định về thực trạng Phật sự của Giáo hội đương thời là một việc khó, không khéo sẽ giống “người mù xem voi”. Có ý kiến bảo Giáo hội đang có nhiều thuận duyên, có ý kiến lại bảo là đang nghịch duyên; Có ý kiến bảo Giáo hội đang phát triển có nhiều thành tựu, có ý kiến lại bảo là trì trệ, bế tắc; Có ý kiến bảo Giáo hội đang đoàn kết thống nhất, có ý kiến lại bảo là đang chia rẽ đa đoan, v,v...
Chúng tôi thấy rằng, khi nhìn thật sâu, nghĩ thật ngấu thì mọi sự đều có cả. Âu cũng là nhân quả và theo lý nhân duyên. Phát cái tâm thế nào thì cho cái nhìn thế ấy.
Khi không khởi cái tâm phân biệt, kỳ thị thì thấy rõ như ban ngày, tự tại mà sống và tu. Là đệ tử Phật cứ tùy duyên mà tu tập, miễn sao lợi lạc cho quảng đại chúng sinh.
Tâm phát khởi là nhờ sự tu tập mà có. Tu gì, tu như thế nào thì khởi phát tâm đó. Tu Phật thì có tâm Phật; tu theo tà đạo, ngoại giáo thì có tâm tà đạo, ngoại giáo. Có tâm gì thì thấy vạn pháp như thế ấy và sẽ hành xử theo cách ấy.
Người xuất gia nếu không dụng công tu tập thì chỉ là người tại gia ở chùa, mượn hình tướng đệ tử Phật, chỉ phát khởi được tâm thế tục, nhìn thế gian theo con mắt thế gian, ứng xử theo cách thế gian, mang lại lợi lạc kiểu thế gian cho chúng sinh và người đó sẽ thành đạt theo kiểu thế gian. Đó là điều xa lạ với đạo Phật, là điều chư Tổ đã phải đau đáu mà diệu dụng cảnh sách, cũng là lời chăng trối của Phật trong kinh Di Giáo.
Tôi luôn mong mỏi chư vị Phật tử, nhất là các chúng xuất gia, tinh tiến tu tập, giữ gìn giới hạnh, trau dồi đạo hạnh, từng bước đạt đến Tâm Phật, có cách nhìn của Phật, ứng xử với đời theo cách của Đạo, mang lại lợi lạc cho quảng đại chúng sinh theo đúng tôn chỉ mà chư Phật, chư Tổ đã giáo hóa.
Khi nhìn theo cách đó, chúng tôi cho rằng, mỗi một đệ tử Phật đều có thể tự mình nhận định về thực trạng của Giáo hội ngày nay. Và giải pháp để giải quyết các vấn đề đã được nhìn nhận thì nằm trong tay chính Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam .
Phật tử Việt Nam: Trong thời gian gần đây, dư luận trong Tăng Ni, cư sĩ Phật tử có bàn nhiều đến vấn đề tổ chức nhân sự trong bộ máy của Giáo hội, về hệ thống giáo dục Phật giáo. Tổ có ý kiến gì về 2 vấn đề đó?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Trong một xã hội đa dạng và phức tạp, trình độ dân chúng đang được nâng cao, các phương tiện để trình bày và trao đổi ý kiến ngày càng phong phú như xã hội ta hiện nay, thì việc có nhiều ý kiến bộc lộ các quan điểm khác nhau, thậm trí trái chiều nhau là bình thường.
Khi thấy thế, nghe thế, Tăng Ni Phật tử không nên động tâm hoang mang. Giáo lý của Phật đề cập rất sâu đến Chính kiến và Giáo luật nhấn mạnh đến giới Vọng ngữ. Nhà Nho xưa kia cũng nói “phi Lễ thì không nghe, không nhìn, không nói”. Đệ tử Phật nếu thâm nhập kỹ càng giáo lý, giáo luật thì sẽ không vọng động.
Tuy nhiên, là con người với đủ cả thất tình, lục dục thì khó tránh khỏi xao xuyến, bâng khuâng khi có ý kiến nọ kia. Thậm chí tranh cãi, phân bua, kiện tụng. Chư quý vị Phật tử cứ dụng công học cho sâu, tu cho tinh tiến, nghiêm trì giới luật thì rồi nhất cử, nhất động sẽ khế hợp với chân lý nhà Phật.
Về tổ chức nhân sự trong bộ máy Giáo hội ngày nay, chúng tôi thấy đó là một tổ chức và hệ thống con người vừa có tính chất đạo Phật vừa có tính thế gian, tùy hợp với điều kiện đất nước ngày nay. Nhà Phật gọi là tùy duyên, ngoài đời thì có câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”.
Khi đòi hỏi một một mô hình tổ chức lý tưởng theo mong muốn mà không tính đến thời thế cụ thể thì lý tưởng đó trở thành hoang tưởng.
Tổ chức Giáo hội ngày nay là kết quả của tất cả các nhân, duyên của lịch sử và hiện thực, được chư Tăng xem xét và quyết nghị, đương nhiên đã chiếu cố đến nhiều khả năng khác. Nếu dư luận nào đem cách nhìn thế tục mà cho rằng tổ chức Giáo hội ngày nay là một sự áp đặt thuần túy từ bên ngoài thì vô hình dung đã coi thường chư Tăng, xúc phạm đến Tăng bảo trong Thế gian trụ trì Tam Bảo và sớm muộn cũng phản lại Đạo Phật.
Bản thân tôi, sống đến nay đã 93 năm, ở một chỗ, ngẫm lại, càng thấy thế gian chỉ là tương đối, sự khiếm khuyết của các cá nhân và tổ chức là khó tránh khỏi, nhất là trong lúc có nhiều sự chuyển biến và suy thoái.
Nay chúng tôi đảm nhận giữ gìn ngôi vị Pháp chủ theo Tăng sai cũng chỉ mong mỏi đóng góp một phần nhỏ, ở một giai đoạn ngắn cho sự trường tồn của đạo Phật ở nước ta mà thôi. Mỗi một Phật tử nên thiện tâm, thiện chí đóng góp phần mình cho sự ngày càng ít khiếm khuyết của tổ chức Phật giáo ngày nay.
Trong giáo dục, đào tạo Phật giáo, hai mặt trọng yếu nhất là Giảng sư và Tăng Ni sinh. Cơ sở vật chất cũng quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định. Chùa to cảnh lớn, giảng đường đẹp, phòng ốc sang dù sao cũng chỉ là phương tiện. Linh hồn của nó là Thầy và Trò trong quan hệ tu tập, hành trì.
Các vị giảng sư cần hiểu sâu, bằng sự chiêm nghiệm, tu tập của chính bản thân về Phật Pháp; phải tích cực, nhiệt thành, tu tập gương mẫu để có thể “dĩ thân vi giáo”; coi việc giúp đỡ hậu côn chính là nuôi dưỡng hậu thân của mình; cần tâm niệm “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Các nhà giáo dục cũng phải không ngừng được giáo dục.
Tăng ni sinh thì cần nhiệt tình tu học, nhưng phải có sự hướng dẫn tu tập của các bậc tiền bối, họ cần được giáo dục, rèn luyện về lý tưởng của người xuất gia. Điều tôi trăn trở, ái ngại nhất là sợ rằng họ không tu tập hoặc giả vờ tu tập, rồi để cái tâm trừu mến theo việc thế gian, ganh đua với thế gian về tri thức, bằng cấp, hưởng thụ.
Kính mong quý vị Tăng Ni luôn hồi tâm soi xét đến bản nguyện xuất gia của mình, nên thường luôn tâm tâm niệm niệm về hoài bão của người xuất gia mà mình đã phát nguyện khi thụ giới, nên thường tụng lại những lời giáo huấn, cảnh sách của chư Phật, chư Tổ về bản nguyện và giới hạnh của người xuất gia.
Nếu thấy mình phúc đức quá kém cỏi, sự tinh tấn tu trì không có đủ thì nên xả giới hoàn tục, ngõ hầu làm người thường, kẻo lâm chung đọa vào 3 nẻo ác nhanh như tên bắn.
Chúng tôi cho rằng, nên đa dạng hơn nữa các hình thức giáo dục, đào tạo Tăng ni, nhất là mô hình các Tổ đình truyền thống. Đặc biệt nên kiên trì giữ gìn nền nếp các trường An cư kết hạ. Đó là nơi không chỉ học tập mà quan trọng là tu tập và thực hành nếp sống cộng đồng, có kỷ cương, “lục hoà” của Tăng, Ni chúng. “Tăng ly chúng thì Tăng tàn”. Tư tưởng về “Chúng” cần luôn luôn thường trực trong tâm của người xuất gia.
Với các chúng Phật tử tại gia cũng cần phải được mở rộng các hình thức đào tạo, giáo dục, hoằng pháp. “Tứ chúng đồng tu” là bản hoài của chư Phật.
Ngày nay, theo chúng tôi được biết, hệ thống giáo dục đào tạo của Phật giáo nước ta cũng có nhiều chuyển biến. Song ý tưởng, kế hoạch, chương trình, tổ chức thực hiện và nhân sự còn nhiều điều bất cập, từng bước một cần khắc phục và thúc đẩy nhanh và chắc hơn nữa để đáp ứng mong mỏi của Phật giáo nói riêng và đất nước nói chung.
Phật tử Việt Nam : Năm 2008, Phật giáo Việt Nam nói riêng và đất nước ta nói chung được Liên hợp quốc chấp thuận cho Tổ chức Đại lễ Phật đản Quốc tế tại Hà Nội. Tổ có khuyến cáo gì về sự kiện đó?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Đại lễ Phật đản Quốc tế là một sự kiện quan trọng mà Phật tử Việt Nam nói riêng và đất nước ta nói chung có vinh dự đăng cai tổ chức. Thực hiện thành công sự kiện này là đại nguyện của tất cả, không của riêng ai hay của riêng GHPGVN. Do vậy chúng tôi mong mỏi tất cả đề cao “đại đồng”, vượt qua “tiểu dị” chung sức chung lòng lo toan. Đây cũng là dịp để Thế giới biết thêm về thực chất Phật giáo và đất nước ta, cũng là dịp để chúng ta thể hiện và soi xét lại mình.
Tuy nhiên, nước ta còn nghèo túng, dân chúng còn nhiều người đói khổ, cho nên tôi đề nghị các cấp nên tổ chức Đại lễ này trang trọng nhưng hết sức tiết kiệm, tránh khoa trương cầu hư danh không cần thiết. Điều đó xa lạ với đạo Phật. Nếu có thể, nên tiết kiệm lấy một số tịnh tài rồi nhân dịp này giúp đỡ đồng bào đang túng đói.
Chúng tôi mong mỏi, làm sao để trước, trong và sau sự kiện này, chính Pháp được xiển dương hơn, chư Tăng hòa hợp, đoàn kết và tinh tiến tu tập hơn, Phật tử và đồng bào cả nước đoàn kết hơn, thiện tâm được khơi gợi và tăng trưởng hơn.
Phật tử Việt Nam: Nước ta là một dân tộc đa Tôn giáo, xin Tổ cho biết quan điểm của Tổ về bản chất, phương thức và mục tiêu của quan hệ giữa tổ chức Phật giáo với Dân tộc, với chế độ chính trị hiện hành và các tôn giáo khác?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Chúng tôi là người tu hành theo giáo lý đạo Phật, nay lại là thành viên của GHPGVN, được tập thể giao cho giữ gìn ngôi vị Pháp chủ nên chúng tôi tuyệt nhiên không có tư cách phát biểu quan điểm riêng của cá nhân mình. Tôi chỉ có thể nói những điều mà chư Phật, chư Tổ và chư Tăng đã tuyên thuyết mà thôi.
Chúng tôi cho rằng, Phật pháp chính là bản chất, cũng là phương pháp và cũng là mục tiêu của mối quan hệ giữa tổ chức Phật giáo với Dân tộc, với chế độ chính trị hiện hành và các tôn giáo khác. Ngoài điều đó thì chắc chắn là phi Pháp.
Phật tử Việt Nam: Năm cũ Đinh Hợi sắp qua, năm mới Mậu Tý sắp đến, Tổ có lời nhắn nhủ, chúc Tết gì gửi đến Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam nói chung và độc giả trang tin Phật tử Việt Nam?
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Kính mong các bậc tu hành luôn gắng tâm, dụng sức giữ gìn lấy Cơ nghiệp của chư Tổ, giữ gìn lấy Hạnh nguyện của chư Bồ tát, giữ gìn lấy Chính Pháp của chư Phật. Khi đã phát tâm Bồ đề thì đừng để cho ngoại cảnh phá hoại đời sống tâm linh của mình. Chính tín cần giữ gìn và tăng trưởng kiên cố, đừng để các trào lưu nghịch cảnh lôi cuốn. Tùy duyên và tùy thuận chúng sinh mà mang lại an lạc cho mình cho người và cho tất cả.
Tết Nguyên đán là Tết của Dân tộc ta, lạm dụng thì cũng có thể coi là Tết của nhà chùa. Đông qua Xuân tới, 1 năm nữa đã qua đi, vô thường đang diễn bày ra trước mắt.
Chúng tôi xin kính chúc chư Tôn đức Trưởng lão, chư quý vị Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử thân tâm an lạc, có sức có tuệ tinh tiến tu tập, trau dồi giới hạnh, nghiêm trì giới luật, thâm nhập kinh tạng, phô bày thân tướng của chư Phật, xiển dương chính Pháp, hòa hợp Tăng già góp phần gây dựng thế giới hòa bình, dân sinh an lạc.
Kính chúc Ban biên tập Phật tử Việt Nam , các cộng tác viên, quý bạn đọc của quý báo một năm mới tinh tiến, trí tuệ và thành tựu.
Phật tử Việt Nam : Chúng con xin trân trọng tri ân Tổ! Kính chúc Tổ Pháp thể khinh an, Tuệ đăng thường chiếu.
Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ: Nam Mô A Di Đà Phật!
(cuộc phỏng vấn kết thúc vào lúc 6 giờ cùng ngày)

Nguồn: http://www.phattuvietnam.net/2/18/2922.html

Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (tiếp)

Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ: đừng để danh, lợi trở thành ma chướng; người tu cần thận tam nghiệp, thâm tín nghiệp báo
Thực hiện: Di Sơn - Huệ Minh
Nhân dịp chuẩn bị khai mạc Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Hà Tây lần thứ VI, vào lúc 10 giờ ngày 14/9/2007, tại trụ sở BTS THPG tỉnh Hà Tây, BTV PTVN đã có cuộc trao đổi với Đại lão Hoà thượng Thích Phổ Tuệ – Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh GHPGVN, Trưởng Ban Trị sự Tỉnh Hội. Cùng tham dự cuộc trao đổi có nhị vị Hòa thượng Thích Thanh Bích, Thích Quảng Lợi - Đồng Phó Trưởng ban Trị sự THPG tỉnh Hà Tây.
Được sự đồng ý của Hoà thượng, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số nội dung của cuộc trao đổi đó.

 1. BTV PTVN. Trước thềm Đại hội lần thứ VI của Phật giáo Hà Tây, các Cụ có thể cho chúng con được biết, so với các kỳ ĐH trước thì ĐH lần này có gì mới hơn, phát triển hơn?

HT. Phổ Tuệ: Mỗi kỳ Đại hội cách nhau 5 năm. Trong thời gian ấy đã có biết bao nhiêu biến cố, cho nên không thể không thấy có sự thay đổi, huống hồ vạn pháp là vô thường.
Còn có mới không, có nhân tố phát triển không thì cần phải so sánh. Đây là chỗ khó, không khéo chúng ta sẽ bị sai lầm.
Nói đến so sánh là phải xét đến phẩm và lượng, đến hình thức biểu hiện và mạch ngầm âm ỉ. Với Phật giáo nói chung thì không thể không căn cứ trên nền tảng Giáo pháp; với Phật giáo ở nước ta, hẹp hơn là tỉnh Hà Tây thì còn phải căn cứ trên bối cảnh lịch sử cụ thể. Đó chính là khế lý khế cơ.
Với Hà Tây, Đại hội này so với Đại hội trước, thấy có dấu hiệu của sự phát triển và trưởng thành. Mọi Phật sự đã có chiều sâu hơn, chín chắn hơn, nền nếp hơn, bài bản hơn, quy mô hơn. Và cơ bản là đã thấy sự trưởng thành của các thế hệ hậu lai. Nhìn vào đội ngũ Tăng Ni hiện nay, chúng tôi đã thấy tạm an tâm.
Tuy nhiên điều lo ngại là, Đại hội Phật giáo nếu không khéo thì có thể bị biến tướng thành một đại hội thuần tuý thế tục, mà ở đó cái danh, cái lợi trở thành ma chướng. Nhà sư mà trở thành cán bộ thuần túy thì không phải là phúc cho đạo.

2. BTV PTVN. Đến nay, thưa các Cụ, công tác chuẩn bị mọi mặt cho ĐH gặp thuận lợi và khó khăn gì?
HT. Phổ Tuệ: Chúng tôi tuy lạm giữ chức nọ chức kia, nhưng tuổi đã cao, ít tuổi như Hòa thượng Quảng Lợi đây cũng đã ngoài 80, bằng tuổi Phật Thích Ca khi nhập diệt rồi, cho nên việc chuẩn bị mọi mặt của Đại hội về cơ bản là do các Thầy tráng niên gánh vác.
Nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là trì nhiếp thân tâm, thanh tịnh tam nghiệp để cho các thế hệ hậu bối trông vào, khả dĩ có thể giúp họ tăng trưởng đạo tâm, gắng sức tu tập mà thôi.
Già lão như thế này nếu còn phải trần lực mà làm gì đó thì đâu phải là phúc cho con cháu? Chúng tôi gắng vô vi thôi. Từ chốn quê thôn dã lên phố phường này, chúng tôi chỉ nghỉ ngơi, uống trà. Ai thỉnh bất cứ điều gì thì đều hoan hỉ cả.
Đấy, các vị thấy đấy, chúng tôi có làm gì đâu.
(Cụ Thanh Bích và Quảng Lợi đều cười và niệm A Di Đà Phật)
Tuy nhiên nghe các Thầy báo cáo thì tới nay, mọi việc chuẩn bị cho Đại hội đã hoàn tất cả. Thuận lợi hay khó khăn thì cũng là điều bình thường. Bảo thuận thì là thuận, bảo nghịch thì là nghịch. Thuận đấy mà là nghịch đấy, nghịch đấy mà là thuận đấy. Đều do tâm sinh hay tâm diệt mà ra thôi. Hơn nữa, tuy là Đại hội nhưng có biết bao nhiêu người gánh vác, riêng Tăng Ni trong tỉnh này đã hơn một ngàn người, còn Phật tử tại gia thì biết bao nhiêu mà kể, nếu biết bảo nhau và huy động mọi người cùng làm thì nhẹ nhàng thôi. Người nào ôm việc nhằm tranh công thì phải chịu vất vả. Công quả thế gian, đối với người tu hành mỏng manh lắm, phải không các Cụ?
(Cụ Thanh Bích và Quảng Lợi đều cười và niệm A Di Đà Phật)
Tuy nhiên, chúng tôi cũng tán thán công quả của Tăng Ni Phật tử đã gắng sức trong các Phật sự chuẩn bị Đại hội. Năm năm một lần cũng là dịp để cho họ thể hiện và vui vẻ. Biết đâu Đại hội chẳng là một cơ hội để mọi người tăng trưởng Đạo tâm và phấn khởi tu tập?

3. BTV PTVN. Trong 5 năm qua, Phật giáo Hà Tây đã đạt được những thành tựu gì trong việc đào tạo tăng tài, tiếp dẫn hậu lai? Các Cụ có điều gì nhắn nhủ?
HT. Phổ Tuệ: Các con số thì các vị có thể xem ở các báo cáo của Đại hội. Tôi ngẫm thấy, “Tre già thì măng mọc”, nói như vậy cũng chỉ là vu khoát, cần nói thêm rằng: tre già phải được dùng vào việc có ích và măng mọc cũng cần có hàng có lối, cần được chăm sóc và bảo vệ thì mới thẳng mới đẹp mới có ích cho Đạo cho đời.
Theo tôi, nên đa dạng hơn nữa các hình thức giáo dục, đào tạo Tăng ni, nhất là mô hình các Tổ đình truyền thống. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận vai trò nhất thống của Quốc gia và Giáo hội. Thống nhất nên trên cơ sở sự đa dạng. Với Phật giáo thì hòa hợp Tăng là quan trọng nhất. Các ràng buộc hành chính, mệnh lệnh ngoài giáo pháp chỉ là nhất thời mà thôi. Đặc biệt nên kiên trì giữ gìn nền nếp các trường An cư kết hạ. Đó là nơi không chỉ học tập mà quan trọng là tu tập và thực hành nếp sống cộng đồng, dân chủ, có kỷ cương, “lục hoà” của Tăng, Ni chúng.
Hà Tây năm nay có 6 trường hạ, tôi đi gần khắp, thấy rất phấn khởi và tin tưởng vào sự gắng công tu tập của Tăng Ni. Khi công phu tu tập chưa thâm hậu thì trợ lực, trợ duyên của Tăng chúng là có tính quyết định. Các bậc hậu học cần suy nghĩ cho kỹ.

4. BTV PTVN. Trong thời gian gần đây, ở nước ta có nhiều dư luận xoay quanh các sự kiện Phật giáo với việc khiếu kiện của dân chúng. Các Cụ có suy nghĩ gì về vấn đề đó?
HT. Phổ Tuệ: Chúng tôi là những người tu hành già lão, lại ở nơi thôn dã, thông tin không đầy đủ, không chính xác. Nếu có chưa chắc đã nhận thức được. Chúng tôi nghe vậy thì biết vậy thôi.
Sẽ là hồ đồ như “người mù khua gậy” khi nói nọ nói kia.
Giáo lý nhà Phật nhấn mạnh về nhân quả và nghiệp báo.
Trong tu hành, không ai tu hộ được ai cả. Ai tu thì người ấy chứng. Mỗi người mỗi hạnh, nhất là hạnh Bồ tát, biết sao mà lạm bàn. Trong Kinh điển Phật có răn các vị Bồ tát về lục độ Ba la mật. Đó là điều thâm hậu khó nghĩ khó bàn, có tu mới thấy. Có pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Bàn về quan hệ của chúng không phải là việc của bậc sơ học.
Tôi vẫn thường răn các Thầy rằng, người tu cần “Thận Tam Nghiệp” tức là thận trọng trong lời nói, việc làm và ý nghĩ. Sở dĩ phải nhấn mạnh về điều đó là bởi, người theo đạo Phật, nhất là người xuất gia cần phải thâm tín nghiệp báo. Không tin vào nhân quả và nghiệp báo thì dứt khoát không phải là đệ tử Phật.

5. BTV PTVN. Trước thềm Đại hội VI của Phật giáo Hà Tây, tiến tới Đại hội VI của GHPGVN, Cụ có điều gì gửi tới Tăng Ni Phật tử Việt Nam?
HT. Phổ Tuệ: Tôi luôn tâm nguyện rằng, kính mong các bậc tu hành luôn gắng tâm, dụng sức giữ gìn lấy cơ nghiệp của chư Tổ, giữ gìn lấy hạnh nguyện của chư Bồ tát, giữ gìn lấy Chính Pháp của chư Phật. Khi đã phát tâm Bồ đề theo Phật thì đừng để cho ngoại cảnh phá hoại đời sống tâm linh của mình. Chính tín cần giữ  gìn và tăng trưởng kiên cố, đừng để các trào lưu nghịch cảnh lôi cuốn. Sống thế nào, tu hành thế nào, rồi từ trần như thế nào cho khỏi hổ danh là người con của Như Lai.
(Cụ Thanh Bích và Quảng Lợi đều niệm A Di Đà Phật)
BTV PTVN. Xin trân trọng cảm ơn các Cụ. Kính chúc các Cụ thân tâm thường an lạc; kính chúc cho Đại hội các cấp thành công tốt đẹp.
- HT. Phổ Tuệ, Thanh Bích và Quảng Lợi: Nam mô A Di Đà Phật!
(Nguồn: http://www.phattuvietnam.net/2/ghpgvn/2365.html)

Những chữ "khi" trong truyện Kiều

Khi Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên, tiếng đàn buồn hiu hắt:
" Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu
Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày"
Khi Kiều vào lầu xanh của Tú Bà, " được" truyền nghề để tiếp khách:
"Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời
Khi khoe hạnh, khi nét ngài
Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa"
Góc khuất cuộc đời kỹ nữ là thế này đây:
"Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa"
Khi Kiều vào nhà Hoạn Thư, chịu đòn ghen:
" Quản gia có một mụ nào
Thấy người, thấy nết, ra vào mà thương
Khi chè chén, khi thuốc thang
Đem lời phương tiện mở lời hiếu sinh"
Khi đoàn tụ với Kim Trọng sau mười năm năm lưu lạc, tiếng đàn đã đổi khác:
" Phím đàn dìu dặt tay tiên
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa
Khúc đâu đầm ấm dương hoà
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên"
Sau tiếng đàn là cuộc sống với những ngày vui:
" Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên"

Trương Tam Lý Tứ

Một ngày mát zời, Trương Tam và Lý Tứ ngồi uống trà đá ở vỉa hè cơ quan. Câu chuyện đưa đẩy tới thời Tam Quốc ở Tàu.
Trương Tam: Triệu Vân và Triệu Tử Long là một người , là tướng của Lưu Bị
Lý Tứ: Ông biết gì mà nói, Triệu Vân mới là tướng của Lưu Bị, còn Triệu Tử Long là bên quân Đông Ngô; là hai người khác nhau.
Trương Tam chẳng nói gì, nhắm nốt cái kẹo lạc, uống nốt cốc trà đá súc miệng ọc ọc rồi đứng dậy trả tiền về cơ quan.
Hôm sau Lục Sự hỏi Trương Tam: " Hôm qua nói chuyện với Lý Tứ, ông nói đúng, Lý Tứ nói sai, sao ông không nói cho ông ta biết mà lại im lặng chịu thua đi về?"
Trương Tam bảo: " Thắng thua gì việc ấy. Sao tôi lại phải nói để Tứ biết là hắn nhầm, với lại kẹ mẹ hắn chứ, cứ để cho hắn hồ đồ cả đời".
............................................................
Quan văn đi qua cổng làng, có thằng bé ở trên cổng vạch chim đái tồ tồ vào mũ quan. Quan gọi nó xuống, cho nó mấy đồng, hỏi han con nhà ai mà mặt mũi sáng sủa nhanh nhẩu.
Quan võ cũng đi qua cổng làng; thằng bé lại trèo lên cổng, vạch chim, đái tồ tồ vào mũ quan. Quan cả giận, sai lính lôi cổ thằng bé xuống, đánh cho mấy chục roi vào đít; lại lôi cả bố mẹ nó ra sân đình đánh cho mấy chục hèo vì tội không biết dạy con.
..............................................................................................
Trong các mối quan hệ xã giao, kể cả trong sinh hoạt thường ngày, với những lời khích bác, châm chọc, xỏ xiên, bới móc, chẳng việc gì phải nói lại cho phí lời. Bởi lẽ, chẳng việc gì phải phí công để kẻ khác biết điều nên hay không nên. Cái ý nó là như thế.

Vô sự

1. Cán bộ
Từ này hay bị lạm dụng/dùng nhầm. Ai đời một chân nhân viên văn phòng, nhân viên một phòng chuyên môn ở UB xã, ở UB huyện cũng bị/được gọi là cán bộ. Lại còn có cả chức danh "cán bộ thôn" !!!!
Có lẽ việc này có nguồn gốc từ tâm lý thích làm quan của dân ta.
Với người được/bị gọi là cán bộ: hiểu nhầm chức phận của mình, đáng lẽ chỉ là nhân viên = người làm công ăn lương, chuyên viên = người chuyên làm một loại công việc mà cứ tưởng mình là cán bộ, thành ra tâm lý quan cách, thích "hành" người dân/đồng nghiệp là "chính".
2. Thực ra
" Thực ra thì..."
" Thực ra là..."
" Thực ra..."
Nói chuyện với quý ông quý bà nào mà cứ "thực ra", khó chịu hết cả người mà cứ phải nhịn. Đằng sau chữ "thực ra" chưa chắc đã là thật như sự thật. Chưa kể đến khả năng là người nói quen mồm; hoặc cố tình muốn người nghe hiểu điều đang nói là đúng.
Có hay không dùng chữ "thực ra", sự hoài nghi với thông tin phía sau không thay đổi.
3. Vàng
Dùng từ nào cho thích hợp:  hoảng loạn, nhảy vọt, nhảy múa... Ước gì có 1 tấn vàng !
Ngày chưa đi làm, dự định sau mỗi tháng mua 1 chỉ để dành. Đi làm thì lương khởi điểm được hơn 1 chỉ; tới giờ sau 5 năm, qua mấy lần tăng, lương mỗi tháng cũng vẫn hơn 1 chỉ tí ti. Chẳng để dành lương mua được chỉ nào vì chưa hết tháng đã hết lương.
Giờ ngồi nhìn giá vàng nhảy múa, thấy mình là kẻ vô sự !
4. Nhà
Thật là đơn giản, bán quyền mua nhà cũng được hơn 200tr, đúng là tiền từ trên zời rơi xuống.
Trong khi công ty nhà cho nhân viên mua thả cửa, ai mua cũng được, thì UB huyện lại nghĩ ra xét với chả nét, thế là ối người mất toi cơ hội có tiền. Mình là một người trong số đó. Cũng bù lại, ối người tự nhiên có tiền. Đúng là cái Số tránh không được.
Có người hỏi bốc thăm được tầng nào. Thản nhiên bảo tầng 28. Nhà 27 tầng mà chọn được tầng 28 là quá siêu còn gì.

Câu đối hay

Nguyễn Công Trứ: “Thật là may, công đăng hỏa có gì đâu. Theo đòi vừa phận lại vừa duyên. Quan trong năm sáu tháng. Quan ngoài tám chín năm. Nào cờ, nào biển, nào mũ, nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh. Mặt tài tình trong hội kiếm cung. Khắp trời nam bể bắc nức phương danh. Vị thế thử chơi coi đã thỏa.”
Nguyễn Quý Tân: “Thôi chẳng nghĩ, cuộc phong trần chi nữa tá. Ngất ngưởng bán tiên mà bán tục. Hầu gái một đôi cô. Hầu trai năm bảy cậu. Này cờ, này kiệu, này rượu, này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu. Tay chí khí ngoài vòng cương tỏa. Lấy gió mát trăng thanh làm tri thức. Tuổi đời thêm thắt ấy là hơn.”

lệnh cấm tửu

Tri phủ Thanh Đàm thông cáo
Phàm là công bộc của dân, tác phong sinh hoạt ngôn từ phải hết sức gìn giữ nghiêm ngắn để dân chúng trông vào.
Hiện nay, có tình trạng nha lại, tới các hàng chánh lý của bản phủ lạm dụng tửu, ăn uống say sưa quá đà. Tuy công việc chưa trễ nải, tư cách chưa tổn hại nhưng về lâu dài việc này là mối nguy hại cho bản phủ trong việc xây dựng hình ảnh công bộc của dân.
Lại nữa, còn có tình trạng ham vui các trò đổ bác mọi chỗ mọi nơi, trong cả giờ làm việc. Các ngón súng dài súng ngắn năm hai cây trăm cây cho tới ba cây nở rộ như nấm gặp mưa. Nơi công đường, chốn đình chung, cho tới nhà riêng của nha lại chánh lý hương kỳ chỗ nào cũng có. Công bộc của dân mà còn ham mê, thì cấm làm sao được dân?
Bởi vậy, Tri phủ Thanh Đàm ban hành lệnh cấm tửu, cấm đổ bác như sau:
1. Cấm tất cả các những: nha lại, hương lý, kì hào uống rượu trong thời gian từ giờ Dần cho tới giờ Thân ở bất kì đâu.
Nếu phải tiếp khách, không được dùng rượu.
Nếu vi phạm điều này, xử phạt: cách chức vĩnh viễn.
2. Cấm tất cả những: nha lại, hương lý, kì hào tụ tập ăn uống ở bất kì chỗ nào không phải là nhà riêng.
3. Cấm tất cả những: nha lại, hương lý, kì hào đánh bạc ở bất kì đâu và bất kì lúc nào.
Nếu vi phạm, xử phạt: cách chức vĩnh viễn.
Vì sự lành mạnh của bản phủ, tri phủ Thanh Đàm ban hành lệnh trên, yêu cầu nghiêm túc thực hiện.

Tập làm nhà báo - Phỏng vấn một cử tri

Điểm bỏ phiếu số X, xã Y, huyện Z, tỉnh M.
Phóng viên (PV): Trước tiên rất cám ơn anh vì đã tham gia chương trình của chúng tôi. Để tiết kiệm thời gian, chúng tôi xin hỏi bằng những câu hỏi ngắn gọn. Xin anh cho biết cảm giác của anh lúc này ?
Cử tri (CT): Tôi thấy bình thường, không có gì khác lạ.
PV: Bình thường là sao, ngay cả trong không khí này ư, thưa anh ?
CT: À thật ra có lúc tôi cảm thấy buồn cười
PV: Buồn cười ?
CT: Vâng, sáng nay khi ngủ dậy, tôi nghe thấy trên loa truyền thanh có câu hát " chúng ta đi bầu cử"; tôi chợt nhớ tới bộ phim Kungfu Panda, có chi tiết chú gấu Poo ngồi trên xe pháo hoa mà tru lên rằng " I love kungfu...u...u...u"
PV: Trước khi anh bỏ phiếu, xin hỏi anh sẽ bỏ phiếu cho người như thế nào?
CT: Tiêu chí chung để chọn đại biểu là có tài có đức. Tôi tin rằng các ứng cử viên đều là những người có tài có đức, dù là được các cấp uỷ, các đoàn thể giới thiệu hoặc tự ứng cử. Đo tài đếm đức của các vị ấy để phân cao thấp hòng chọn được người có tài đức vượt trội là việc không thể làm vì có những đại biểu mà tôi biết; có những đại biểu tôi không biết.
Có điều băn khoăn là người tôi biết thì tôi biết; nhưng người tôi không biết thì không lấy gì mà so sánh được với người tôi đã biết; biết ai đã hay dở hơn ai. Thế nên cũng khó để chọn.
PV: Nhưng vẫn phải có cái gì đó làm tiêu chuẩn để lựa chọn chứ; với lại thông tin về các ứng cử viên cũng đã được công bố lâu rồi.
CT: Tôi phải căn cứ vào mấy điểm này: Một là tướng mạo, hai là bằng cấp, ba là tên gọi, bốn là năm sinh.
PV: Xin anh nói rõ hơn
CT: Tướng mạo thì khó xem, vì nhiều khi mắt ta lừa ta vì cái vẻ ưa nhìn bề ngoài mặc dù tâm có thể hiện ra ngoài tướng; cái này tôi cũng chỉ cảm tính thôi. Bằng cấp thì cũng tạm lấy ra để so sánh vì ít ra cũng biết quá trình học tập của người ta như thế nào. Tên gọi cũng có ảnh hưởng chút ít tới tính cách. Năm sinh để xét già trẻ, tức là độ tuổi thôi chứ trong tứ trụ thì đã giấu đi giờ sinh nên không xem được.
PV: Như anh nói thì huyền bí quá, có vẻ dị đoan nữa.
CT: Vâng, thì cái cách thông tin nó làm ra thế. Với lại theo như cách tôi nêu ra thì phải là người tinh thông tướng pháp lý số mới làm được. Nói ra là để cho vui. Thế còn như tôi và nhiều người khác thì chủ yếu là lựa chọn theo cảm tính thôi.
PV: Anh vừa nói tới già trẻ, vậy anh nghĩ sao về việc năm nay có nhiều bạn trẻ tham gia ứng cử?
CT: Đó là điều tốt. Tuổi trẻ liền với sức sống mới. Đặc biệt ở HĐND cấp xã, việc bố trí những ứng cử viên trẻ bên cạnh những ứng cử viên đã có kinh nghiệm công tác là cơ hội cho cử tri lựa chọn giữa sức trẻ và kinh nghiệm.
PV: Anh lựa chọn thế nào, thưa anh?
CT: Bạn có giữ bí mật cho tôi không ?
PV:
CT: Tôi không giấu là tôi ủng hộ các bạn trẻ; kinh nghiệm thì từ từ sẽ tới.
PV: Xin hỏi anh câu cuối, anh nghĩ  cuộc bầu cử này đối với các ứng cử viên cũng như các cử tri có ý nghĩa như thế nào ?
CT: Với các ứng cử viên, đây là dịp để kiểm tra mức độ tin tưởng và yêu mến của nhân dân với bản thân; nếu trúng cử sẽ là dịp để họ tham gia xây dựng chính quyền
Với các cử tri, bầu cử là dịp để thực hiện quyền công dân, nói là quyền nhưng thực ra lại là nghĩa vụ. Đó là nghĩa vụ xây dựng nhà nước
PV: Cám ơn anh !

Hòa thượng Thích Phổ Tuệ

“Chùa to, cảnh lớn, giảng đường đẹp, phòng ốc sang dù sao cũng chỉ là phương tiện. Linh hồn của nó là thầy và trò trong quan hệ tu tập và hành trì."
"...Sống ở trên đời này được bao nhiêu năm, theo tôi, không phải là thước đo giá trị của đời người. Con rùa nó sống hàng ngàn năm thì đã sao? Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo, ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, Ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệp thì không thể luận bàn. Tôi trụ thế đến nay đã 91 năm, ở chùa 85 năm, thụ Đại giới được 71 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ cho gọi thì về thôi..."
“Đạo Phật là đạo của trí tuệ, trí tuệ  ở tầm cao, có hệ thống và thực chứng, tuyệt nhiên không phải là lý thuyết xuông. Với các Thầy, các cư sĩ khi ứng cơ vào cuộc sống cần thấu triệt lục độ ba la mật, khế lý khế cơ để làm việc cho có hiệu quả, đóng góp tích cực cho đời sống nhân sinh. Tuổi trẻ là độ tuổi có nhiều ưu thể để trau dồi trí tuệ, hoằng pháp đối với tuổi trẻ cần phải ưu tiên cho việc học hỏi, nghiên cứu Phật pháp. Làm Phật sự mà không trí tuệ thì khó có thể thành tựu, khó có thể không sai lạc”.

“
Ngày nay, thực tiễn cuộc sống cho thấy từ gia đình cho đến quốc gia đang ứng dụng Phật giáo vào nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là trong vấn đề đạo đức và tâm linh - hai phần quan trọng nhất của con người và của xã hội. Đạo đức và tâm linh băng hoại thì từ gia đình đến xã hội không thể không đọa lạc. Việc ứng dụng Phật pháp vào việc ước thúc, kiểm soát và làm sạch tâm của con người là một giải pháp tốt, một phương thuốc hay để khắc phục sự băng hoại đó. Tuy chưa có sự kiểm điểm nhất định nhưng rõ ràng là việc ứng dụng đó có nhiều ưu việt và thành quả là ưu trội.”…

Lời chúc Tết năm Canh Dần:
“Nam mô A Di Đà Phật!
Trước hết, chúng tôi xin chào đón và cảm ơn quý vị đã dành thời gian giáp Tết eo hẹp, không quản đường xá xa xôi, rét mướt về đây lễ Phật, lễ Tổ và hỏi thăm sức khỏe của chúng tôi. Kế theo, thể theo yêu cầu của quý vị, chúng tôi xin được chia xẻ đôi điều:
Tuân theo quy luật thường hằng, xuân này chúng tôi đã qua tuổi 94, sang tuổi 95. Tuổi này khó tránh khỏi bệnh già. Nhờ nhân duyên, chúng tôi mọi sự vẫn còn được điều hòa, vẫn tự thân vận động, tự lo, tự phục vụ, chưa phải làm phiền nhiều đến mọi người xung quanh. Còn sinh hoạt hàng ngày thì đơn giản, tự nhiên như nếp sống vốn có của nhà chùa, theo nghi quỹ mà chư Tổ đã chế ra và duy trì.
Chúng tôi không coi chuyện sống lâu đến trăm tuổi làm điều vinh hạnh. Cụ Tổ ở đây về nơi tịch diệt khi mới 51 tuổi đời, 30 tuổi hạ mà sự nghiệp đóng góp cho sự trường sinh của Phật pháp nước nhà thật đáng khâm phục.
Noi gương các Ngài, chúng tôi cũng chỉ biết gắng công, dụng sức, dụng tâm, việc gì có thể làm thì gắng làm, việc gì chưa thể làm thì hẵng để đấy.
Việc thế gian, cũng như việc Phật sự thì nhiều vô kể, trùng trùng nối tiếp nhau không dứt, hết việc nọ đến việc kia, mà đời người và sức người lại hữu hạn.
Tới nay, chúng tôi tự coi mình là người vô sự. Vả lại, có ai nỡ nhẫn tâm đề nghị người già ngoại 90 làm gì nữa; vả lại, người đã già ngoại 90 thì còn nên làm gì nữa?
Thứ nữa, về Phật sự năm cũ và năm mới, điểm đầu việc, đánh giá và chỉ đạo thì ban ngành các cấp đã làm, đã đúc rút trong báo cáo, các vị nếu cần thì có thể tìm hiểu.
Với chúng tôi thì mực thước ở thời điểm này, để đánh giá và định hướng mọi việc, mọi người trong Phật sự Việt Nam đó là: Việc giữ gìn cơ nghiệp của Tổ tiên, làm những việc mà Tổ tiên giao cho như thế nào? Việc anh em, con cháu trong nhà hòa hợp, đùm bọc, nâng đỡ, dìu dắt nhau ra sao? Việc trên cầu Phật, dưới dạy người theo chính giáo vì lợi lạc của số đông như thế nào?
Bám vào dường mối ấy, chúng tôi cũng đã có lời tán thán công quả về những việc đã làm được. Nhân đây, chúng tôi cũng xin chia xẻ tận đáy lòng về những việc bất như ý, bất như tâm, bất tòng tâm mà Phật giáo nhất thể chúng ta được gặp. Với cách nhìn Phật học là Tuệ học, chúng tôi tin chắc rằng, chư Tôn đức và Phật tử đã đang và sẽ định tâm thấy rõ đạo, pháp vô thượng mà Phật Tổ đã di giáo, đồng thời cũng thấy rõ sự xiển bày vô thường của thế sự nhân sinh; tiếp nhân, đối sự khế lý, khế cơ vì sự trường sinh của Đạo Pháp, vì hạnh phúc của quảng đại nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bảo vệ hòa bình.
Thứ nữa, Tết Nguyên đán là Tết của Dân tộc ta, lạm dụng thì cũng có thể coi là Tết của nhà chùa. Vũ trụ thì vận hành theo tứ thời Xuân hạ thu đông, đời người thì luân hồi theo sinh già bệnh chết. Đông qua Xuân tới, 1 năm nữa đang qua đi, 1 năm nữa đang đến, vô thường đang diễn bày ra trước mắt.
Với con nhà Phật chúng ta thì hãy gắng tu tập tới chỗ không còn mảy may xúc động, thấy rõ tứ thời bát tiết, sinh già bệnh chết ở đâu và lúc nào cũng là mùa xuân bất tận.

Theo cách nhìn ấy, chúng tôi xin kính chúc chư Tôn đức Trưởng lão, chư quý vị Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử thân tâm an lạc, có sức có tuệ tinh tiến tu tập, trau dồi giới hạnh, nghiêm trì giới luật, thâm nhập kinh tạng, phô bày thân tướng của chư Phật, xiển dương chính Pháp, hòa hợp Tăng già góp phần gây dựng thế giới hòa bình, dân sinh an lạc.
Kính chúc Ban biên tập, các cộng tác viên, quý bạn đọc của quý báo một năm mới sức khỏe mới, thành đạt mới, gia đình hạnh phúc. Nam Mô A Di Đà Phật!”
"
Mục đích của đạo Phật xuất phát từ lòng Từ Bi, Bình đẳng. Từ là đem lại sự vui mừng cho đời; Bi là nhổ bỏ hết sự đau khổ ở đời; bình đẳng là thương yêu vạn vật như thương yêu thân mình.
Nhận định về thực trạng tu tập và hoạt động Phật sự của Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử cần lấy Giới Định Tuệ làm tiêu chuẩn và lấy sự lợi lạc theo đúng chính Pháp của chúng sinh làm mục đích.
Không giữ giới thì sẽ buông lung, giải đãi. Bản thân không có giới đức, không có oai nghi thì đương nhiên sẽ bị nhân quần coi rẻ. Khi đó, nói không có người nghe, làm không có người theo, mọi thói xấu cũng từ đó mà ra.
Không trì giới thì không có sức định; không có chính định thì không có tuệ giác. Mà không có tuệ giác thì không thể có từ bi theo đúng chính pháp.
Để làm Phật sự thì cần phải tu tập giới định tuệ. Tu tập giới định tuệ là Phật sự quan trọng nhất. Không tu tập mà muốn làm Phật sự thì đó không phải là Phật sự, chỉ là giả danh Phật sự mà thôi. Đó là điều Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử cần tự tâm phản tỉnh."
Sư Thanh Duệ : “Tổ ở nơi sâu xa, chịu cái khổ không phải ai cũng chịu được, cho nên có cái có không phải ai cũng có được”

Diều

Diều Phượng năm đuôi
Đích thị là con chim khủng
Diều bay cao hơn. Có 2 "chú" đang "luyện công" kìa
Thu hồi diều , lôi diều về tắm rồi ăn cơm

Trên đỉnh núi Chồng

Bõ công thuê xe ôm leo lên đỉnh núi, qua mấy chỗ cua và dốc hãi khiếp là cảnh chí hữu tình
Tượng Thánh Gióng - tượng duy nhất có món "gắn tim"
Nhìn mãi không thấy "trym" ngựa đâu; vô lý gắn "tim" cho chủ mà lại không gắn "trym" cho ngựa
Chắc là ngựa cái mặc váy rồi; Dịch có câu "tẫn mã chi trinh" - "khoẻ bền như ngựa cái" đấy thôi. Ngựa chiến của Thánh Gióng chắc phải là ngựa cái bằng sắt roài.
" Hai hàng chưn cong cong; Cô đi dép xinh xinh"

Đa Hòa


Tây lựu...

Đông đào....


Vẫn cụ Từ năm ngoái...


nhưng phong đình đã khác...


Kẻ đến cầu cho duyên tình trăm năm bền vững ở nơi có mối tình tự nhiên vô tư trong sáng...


người đến cầu tài ở nơi tổ của ngành buôn bán


lại có kẻ chỉ vì rong chơi nơi sông nước...


Hai bờ sông Nhuệ

Mùa xuân, ngày cuối tháng hai năm Mèo, đầu tháng Tư dương lịch 2011
Xong việc dòm ngó sắt thép ở đình Ngoại, Tôi qua cầu Hữu Hoà mới sang Tả Thanh Oai, theo bờ sông Nhuệ đi về Thượng Phúc tìm đường thoát nước cho miếng đất kẹt ở ngõ 67. Vừa đi tôi nghĩ: mơ màng Vạn Phúc, Đa Hoà, sông Hồng, thế mà lại thành ra ở Thượng Phúc, sông Nhuệ thế này.
Đường vào Thượng Phúc không xa lạ với tôi. Lần đầu tiên là đi đưa mấy cân thịt bò cho nhà một bác tên là Vân Sơn - Mây và Núi bán ở chợ nhỏ ven sông: chồng là Sơn vợ là Vân. Lần thứ hai lần thứ ba lần thứ tư... cũng vẫn thế, khi nào nhà bác này lấy hàng là tôi lại vội vàng đưa đi vội vàng về. Đôi khi công việc cũng phải rẽ qua rẽ lại, thành ra không chỉ Thượng Phúc mà cả Tả Thanh Oai cũng không có gì là lạ. Mỗi lần đi tới nơi này, ngoài ám ảnh vì dòng sông Nhuệ rất bẩn nước đen ngòm, thì tôi luôn cho là hai bên bờ sông đoạn này còn nhiều nét quê vì cảnh sắc nơi đây chủ yếu vẫn ẩn mình dưới những cây cổ thụ cùng những bờ tre xanh rậm rạp. Nếu bên này là Tả Thanh Oai, Nhân Hoà, Thượng Phúc; thì bên kia là Hữu Từ, Hữu Trung, Phú Diễn. Và đâu đó là Cự Đà - nổi tiếng với đặc sản tương Cự Đà - nơi mà bà nội tôi khi ngoài sáu mươi tuổi vẫn vớt bèo cái gánh từ Vĩnh Ninh nhà tôi sang tận chợ bên này bán.
Ngoài nhà cửa làng xóm, điều dễ thấy nhất là hai bên bờ sông Nhuệ có nhiều đình chùa. Bên bờ tả có đình Hoa Xá, Ngự Minh Lâu, đình Nhân Hoà, Thượng Phúc đi dăm trăm mét lại thấy; xa hơn nữa là chùa Linh Ứng Siêu Quần, dưới nữa là Đan Nhiễm với đình chùa mà tôi đã đi qua nhưng chưa biết tên. Bờ bên hữu cũng vậy. Đình chùa là dấu tích cho thấy sự tập trung dân cư từ xưa ở hai bên bờ sông. Chẳng phải tự nhiên mà Tả Thanh Oai có tới 12 vị đại khoa ở các họ Ngô họ Nguyễn; rồi thì Đa Sỹ Hà Đông - đó là kết quả của sự trầm tích văn hoá lâu dài.
Sự tò mò với đình chùa bờ bên hữu đã thu hút tôi.
Từ ngõ 67 Thượng Phúc đi ra, tôi đi tiếp về hướng Siêu Quần thì thấy trạm bơm Khê Tang. Trạm bơm này tôi đã nhìn thấy bằng máy kinh vĩ từ Siêu Quần năm 2006. Cái tên Khê - dòng nước; Tang - Dâu gợi lên dấu tích về vùng trồng dâu dệt lụa hẳn có liên quan đến làng lụa Vạn Phúc ở gần đây. Qua sông Nhuệ đen ngòm bằng đò, tranh thủ chụp được mấy kiểu này đây:
Cây sanh dáng hoành thế tự nhiên xà xuống mép nước
Bến đò - duy nhất một đò, em lái đò quanh năm hít mùi nước đen
Một hình ảnh nữa của sông Nhuệ ngày nay
Chuẩn bị xây một đoạn kè của dự án Gia cố bờ tả sông Nhuệ
Sang bờ hữu, đi về phía Hữu Hoà, từ trạm bơm Khê Tang đi đoạn ngắn nữa thì đến thôn có tên là Khúc Thuỷ xã Cự Khê (lại Khê) , gặp một ngôi chùa. Không ngờ là chùa to thế:
Cái cổng này lạ, không giống với những cái cổng đã từng gặp
Vào trong thấy choáng vì chùa rất rộng và rất có từ rất xưa:
Hai lối vào mỗi lối có hai hàng tượng Phật Tỳ Lô Giá Na - Pháp thân của Phật Thích Ca. Dưới bệ mỗi bức tượng có một tấm bảng như ở trên lưu lại danh tính của người phát tâm công đức làm tượng. Công đức thật là công đức !
Trong sân lại là tượng Phật Tỳ Lô Giá Na
và Bồ Tát Quan Thế Âm
1000 năm - có nghĩa là cách đây 1000năm, khi nơi này còn là vùng thấp trũng hoang vắng, có khi còn chưa có cái tên Sơn Nam thì nơi đây đã có chùa có người.
Đi tiếp về phía Hữu Hoà, qua thôn Khúc Thuỷ lại đến thôn Cự Đà, thấy rất nhiều nhà cũ lẫn nhà mới cổng cũ cổng mới - dấu tích của sự trù phú trong quá khứ và đang lên trong hiện tại. Mà không trù phú sao được khi xem địa hình nơi nay: một mặt bám sông ở thế " nhất cận thị nhị cận giang", một mặt là đồng ruộng rộng rãi.
Cổng chùa Minh Linh -Cự Đà nhỏ nhắn. Tấm biển mừng xuân an lạc vẫn còn, cảm giác như thời gian trôi qua nơi này thật uể oải.
Hai câu treo bên cổng chùa: " Cõi Sa Bà mê muội trầm luân, Phật hiệu chuyển vang lời giác ngộ; Cửa Tam bảo đạo tình rộng mở, chuông đồng vọng tiếng từ bi". Đọc xong hai câu này nghĩ mình vẫn còn là người " vọng tưởng điên đảo".
Trong chùa hoá ra rất rộng rãi. Thật là cái tướng ngoài khiêm cung mà trong khoáng đạt.
Bài ký trên bia

Cơm trưa

Bốn người ngồi chung một bàn. Một gái đã chồng; hai trong ba trai đã vợ. Ăn xúplơ xào cà chua. Vừa trắng vừa đỏ.
Trai chưa vợ: "Đúng là không lần nào bằng cái lần đầu tiên các bác nhỉ"
Gái đỏ mặt. Hai trai kia tủm tỉm cười.
Trai chưa vợ: " Lần đầu tiên em ăn xuplơ xào ngon thế; bao nhiêu năm nay tìm lại cảm giác đấy mà không được"
Có người cười phì cả cơm ra. Rũ.

Chuyện xin ấn

Nước Nam, thời nhà Hậu Hồ những năm thứ 60 vào kỉ thứ 3.  Thiên hạ thái bình, cơ bản là mưa thuận gió hoà tuy thỉnh thoảng có thiên tai lũ lụt khách quan; nhân dân ba miền yên ổn làm ăn; tình hình biên giới hải đảo thi thoảng có đôi chút căng thẳng nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.
Theo như lệ thường, vào giờ Tý  ngày Nguyên tiêu, tại Nam Định thành, Thiên Trường phủ, Lộc Vượng phường, Tức Mặc thôn, hậu duệ đế vương tiền triều họ Trần khai ấn của Tổ tiên, phát cho dân chúng. Với 8 chữ trên ấn gồm 4 chữ lớn là " Trần miếu tự điển" và 4 chữ nhỏ là "Tích phúc vô cương", chúng dân nhận những cánh ấn in trên giấy hoặc lụa hoan hỷ tin tưởng như được phúc lộc thăng quan tiến chức.
Nguyên việc này do Trần tiền triều khởi xướng duy trì, ý nghĩa nhắc nhở quan lại chúng dân rằng: ấn đã phong, nay đã mở, vui Tết chơi xuân từ lễ cá chép tới nguyên tiêu là dừng, triều đình đã làm việc trở lại, các cấp cũng phải lấy đó mà theo. Tới thời nhà Hậu Hồ, nhiệm vụ nặng nề, công việc ở cấp nào cũng chất chồng như núi, quan lại trung ương thường nhắc nhở thuộc cấp " ra quân làm việc ngay từ ngày đầu tháng đầu, quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ kinh- chính- xã- an quốc"; quan lại cấp dưới y lệnh trên theo lệ cũ cứ lấy sau nguyên tiêu hàng năm sau khi khai ấn Trần triều là ngày đầu, rục rịch làm việc trở lại.
Chúng dân Nam quốc càng ngày càng trọng cổ ưa kim, thật là điều mừng cho phong hoá. Nguyên Tiêu năm con Mèo hàng vạn quan dân trăm họ đổ về thôn Tức Mặc để dự lễ khai ấn xin ấn Trần triều. Lòng yêu mến trở thành nhiệt tình thái quá; trai xinh gái đẹp phương phi đạo mạo chen lấn xô đẩy dẫm đập lên nhau, phùng mang trợn mắt chen nhau vào lấy ấn. Thật là cướp ấn, mua ấn chứ không phải xin nữa. Các đội Hoàng Y quân, Thanh Y quân, Hắc Y quân, Lục Y quân hàng trăm người trải ra mà không giữ được trật tự. Ai đã chứng kiến cảnh này, thực vô cùng ngán ngẩm. Bên ngoài chen lấn xô đẩy nhau như thế, bên trong các vị thần linh nhìn ra đám con cháu hậu sinh hẳn là thất vọng vô cùng.Chuyện này thôi không nói nữa.
Giai thoại lưu truyền trong dân gian ít người biết tới rằng tại Thanh Đàm phủ, Bách Bách Thị Phú xã cũng có một ấn rất linh đang được cất giữ bí mật.
Bách Bách Thị Phú vốn là vùng đất rất cổ, gắn liền với giai thoại về vị Thánh đa tài đa tình Chử Đồng Tử đã được tôn sùng thành một trong Tứ Thánh bất tử của người Nam. Nơi đây còn ghi dấu chuyện hôn nhân giữa Hùng Vương đệ thập thất và người con gái bản quán tên Xuân Dung, toàn là chuyện tình yêu tình báo sinh sôi nảy nở. Dấu tích của chuyện này là đình thờ Uy Nang đại vương - con trai của Hùng Vương đệ thập thất và Xuân Dung ma-đam ở sát bờ sông. Về phong thuỷ, đất này quay mặt ra sông Cả, được sông Cả bao bọc hình cánh cung ôm ấp, lưng dựa vào bờ đê cổ và vùng dân cư Thanh Đàm. Vì thế nơi đây là nơi tụ khí, trai tráng thì khoẻ mạnh, con gái thiếu nữ thì xinh xắn, tính cách phóng khoáng rộng rãi. Nhờ có sông Cả, từ nơi này có thể giao lưu rộng khắp thượng hạ nguồn.
Bấy giờ, có hậu duệ dòng dõi đế vương họ Vu Thiếu Hoành ẩn dật tại Bách Bách Thị Phú. Nguyên tổ tiên người này trong khi vận nước đổi thay đã theo các dòng sông lưu lạc, mang theo các đồ quý giá của triều đình về định cư tại vùng đất ven sông này. Trải qua năm tháng chiến tranh loạn lạc, tới nay người này được truyền giữ lại vật duy nhất là một chiếc ấn. Ấn này bằng đồng đỏ, hình vuông bốn cạnh đều nhau, trạm khắc long phượng tinh vi, hoa cúc hoa sen quấn quýt giao kết vô cùng cầu kì, mặt ấn khắc 4 chữ lớn: Tiến Trường Chi Ấn và  4 chữ nhỏ viết theo thể rất loằng ngằng là thiên cơ bí ẩn chưa thể nói ra. Có người trong họ Vu Thiếu Hoành đồ rằng nó nghĩa là: thăng quan tiến chức lâu dài bền vững.
Tuy thế, từ khi lưu lạc tới nay, ấn này chưa từng được mở lại. Hậu duệ họ Vu Thiếu Hoành cất giữ ấn thuần tuý như vật gia bảo chỉ truyền cho dòng trưởng, không lộ cho người ngoài biết.
Một đêm mùa xuân con mèo, hậu duệ giữ ấn họ Vu Thiếu Hoành đang mơ màng ngủ. Bỗng đâu, sương khói  giăng đầy nhà, hương lan sực nức, bốn bề thanh vắng mà như có ngựa hí quân reo. Trước cửa chính xuất hiện người mặc áo vàng, tóc búi tó, chít khăn màu vàng, mặc áo thêu rồng. Người họ Vu Thiếu Hoành bàng hoàng cứng họng như có ai đổ thiếc vào mồm không nói được gì, mắt trân trân nhìn. Người kia nói:
" Đừng sợ, nghe ta nói. Ta là Tổ tiên nhà ngươi. Hôm nay ta về đây, bảo cho ngươi biết một chuyện. Bao nhiêu năm qua các người đã giữ vật cực quý cực linh là ấn của ta, giờ đã tới lúc dùng. Ngày nay con dân của ta sính kim mà chuộng cổ. Hãy đem ấn của ta đóng vào giấy quý ban cho kẻ nào muốn. Kẻ nào gặp thiện duyên mà có được, ta sẽ phù hộ cho kẻ ấy bình an, thân tâm khang thái, gia đạo hưng long. Lại nói cho ngươi biết, ngày giờ khai ấn phải chọn. Đó là giờ Tý, ngày chính hội tại đình thờ Uy Nang đại vương hàng năm. Ấn chỉ đóng và phát trong giờ Tý. Người đóng ấn là con cháu ta, tên đã có trên ấn. Người ngoài họ phát ấn. Trước khi khai ấn, phải làm lễ bố cáo trời đất cho thiên hạ được biết. Lễ này làm vào năm Mậu Dậu, tháng Tân Ngọ, ngày Ất Tý, giờ Bính Mão. Bảo ngươi cứ thế mà làm".
Người họ Vu Thiếu Hoành bàng hoàng tỉnh giấc; hoá ra là giấc mơ. Về sau suy ngẫm y lời trong mộng mà theo.
--------------------------------------------------------------------------------
Sau truyện:
Đồn rằng, hàng năm vào giờ Tý ngày chính hội ở đình thờ Uy Nang đại vương tại Bách Bách Thị Phú, họ Vu Thiếu Hoành lại tổ chức khai ấn rất hoành tráng, người tới dự đông tới hàng vạn, chen lấn xô đẩy nhau mong được nhận lấy cánh ấn có 4 chữ to " Tiến Trường Chi Ấn". Người nhận ấn hoan hỷ tin tưởng nếu chưa làm quan sẽ tiến vào quan trường, nếu làm quan xã sẽ được làm quan huyện; làm quan huyện sẽ được làm quan tỉnh; làm quan tỉnh sẽ lên Trung Ương, cơ cấu vào BCT vinh hoa tột bậc.
Duy những người hiểu được 4 chữ nhỏ trên ấn thì im lặng mỉm cười, không bao giờ xin ấn.
Những năm đầu tiên, họ Vu Thiếu Hoành cử ra người con trai thứ hai của tộc trưởng là người đóng ấn. Người này tuổi con Rắn, tướng mạo phi phàm, mặt mũi phương phi, da đen như chì là tướng trung hậu, tứ chi nảy nở, cơ bắp cuồn cuộn, răng đều khít khịt tựa như tăm tre siêu nhỏ cũng không lọt. Về mặt trí lực thì không phải bàn. Các món ba cây chín cây năm mươi hai cây một trăm cây hoặc bốn cây sấp ngửa đều tinh thông; đã chiến không bao giờ bại. Lại các món bóng to bóng nhỏ bóng chân bóng tay có lông hay không có lông đã chơi là được. Thêm các xe hai bánh bốn bánh, bốn chỗ bảy chỗ mười lăm chỗ hay hai mươi chỗ ngồi lên là phóng tít được. Về tính cách thì thôi rồi không phải nói: trên dưới không mất lòng ai; âm dương không khi nào mạo phạm, phải mỗi cái hay đùa dai. Những năm nhận việc đóng ấn, trong vòng hai tiếng giờ Tý, người này có thể đóng ra hàng vạn tờ ấn, làm thoả mãn hàng vạn nam phụ lão ấu. Theo như lời kể của vợ là Sàn Rào thị , trước ngày khai ấn hàng tháng, người này đã phải tập luyện. Thường thì  người này có thể đóng ấn bất kì giờ nào, vợ gọi lúc nào là đóng ấn lúc đó, không chút nề hà, hễ cần là có và có thể đóng ấn hàng tiếng mà không mệt không dừng.