Mùa xuân, ngày cuối tháng hai năm Mèo, đầu tháng Tư dương lịch 2011
Xong việc dòm ngó sắt thép ở đình Ngoại, Tôi qua cầu Hữu Hoà mới sang
Tả Thanh Oai, theo bờ sông Nhuệ đi về Thượng Phúc tìm đường thoát nước
cho miếng đất kẹt ở ngõ 67. Vừa đi tôi nghĩ: mơ màng Vạn Phúc, Đa Hoà,
sông Hồng, thế mà lại thành ra ở Thượng Phúc, sông Nhuệ thế này.
Đường vào Thượng Phúc không xa lạ với tôi. Lần đầu tiên là đi đưa mấy
cân thịt bò cho nhà một bác tên là Vân Sơn - Mây và Núi bán ở chợ nhỏ
ven sông: chồng là Sơn vợ là Vân. Lần thứ hai lần thứ ba lần thứ tư...
cũng vẫn thế, khi nào nhà bác này lấy hàng là tôi lại vội vàng đưa đi
vội vàng về. Đôi khi công việc cũng phải rẽ qua rẽ lại, thành ra không
chỉ Thượng Phúc mà cả Tả Thanh Oai cũng không có gì là lạ. Mỗi lần đi
tới nơi này, ngoài ám ảnh vì dòng sông Nhuệ rất bẩn nước đen ngòm, thì
tôi luôn cho là hai bên bờ sông đoạn này còn nhiều nét quê vì cảnh sắc
nơi đây chủ yếu vẫn ẩn mình dưới những cây cổ thụ cùng những bờ tre xanh
rậm rạp. Nếu bên này là Tả Thanh Oai, Nhân Hoà, Thượng Phúc; thì bên
kia là Hữu Từ, Hữu Trung, Phú Diễn. Và đâu đó là Cự Đà - nổi tiếng với
đặc sản tương Cự Đà - nơi mà bà nội tôi khi ngoài sáu mươi tuổi vẫn vớt
bèo cái gánh từ Vĩnh Ninh nhà tôi sang tận chợ bên này bán.
Ngoài nhà cửa làng xóm, điều dễ thấy nhất là hai bên bờ sông Nhuệ có
nhiều đình chùa. Bên bờ tả có đình Hoa Xá, Ngự Minh Lâu, đình Nhân Hoà,
Thượng Phúc đi dăm trăm mét lại thấy; xa hơn nữa là chùa Linh Ứng Siêu
Quần, dưới nữa là Đan Nhiễm với đình chùa mà tôi đã đi qua nhưng chưa
biết tên. Bờ bên hữu cũng vậy. Đình chùa là dấu tích cho thấy sự tập
trung dân cư từ xưa ở hai bên bờ sông. Chẳng phải tự nhiên mà Tả Thanh
Oai có tới 12 vị đại khoa ở các họ Ngô họ Nguyễn; rồi thì Đa Sỹ Hà Đông -
đó là kết quả của sự trầm tích văn hoá lâu dài.
Sự tò mò với đình chùa bờ bên hữu đã thu hút tôi.
Từ ngõ 67 Thượng Phúc đi ra, tôi đi tiếp về hướng Siêu Quần thì thấy
trạm bơm Khê Tang. Trạm bơm này tôi đã nhìn thấy bằng máy kinh vĩ từ
Siêu Quần năm 2006. Cái tên Khê - dòng nước; Tang - Dâu gợi lên dấu tích
về vùng trồng dâu dệt lụa hẳn có liên quan đến làng lụa Vạn Phúc ở gần
đây. Qua sông Nhuệ đen ngòm bằng đò, tranh thủ chụp được mấy kiểu này
đây:
Cây sanh dáng hoành thế tự nhiên xà xuống mép nước
Bến đò - duy nhất một đò, em lái đò quanh năm hít mùi nước đen
Một hình ảnh nữa của sông Nhuệ ngày nay
Chuẩn bị xây một đoạn kè của dự án Gia cố bờ tả sông Nhuệ
Sang bờ hữu, đi về phía Hữu Hoà, từ trạm bơm Khê Tang đi đoạn ngắn nữa thì đến thôn có tên là Khúc Thuỷ xã Cự Khê (lại Khê) , gặp một ngôi chùa. Không ngờ là chùa to thế:
Cái cổng này lạ, không giống với những cái cổng đã từng gặp
Vào trong thấy choáng vì chùa rất rộng và rất có từ rất xưa:
Hai lối vào mỗi lối có hai hàng tượng Phật Tỳ Lô Giá Na - Pháp thân
của Phật Thích Ca. Dưới bệ mỗi bức tượng có một tấm bảng như ở trên lưu
lại danh tính của người phát tâm công đức làm tượng. Công đức thật là
công đức !
Trong sân lại là tượng Phật Tỳ Lô Giá Na
và Bồ Tát Quan Thế Âm
1000 năm - có nghĩa là cách đây 1000năm, khi nơi này còn là vùng thấp
trũng hoang vắng, có khi còn chưa có cái tên Sơn Nam thì nơi đây đã có
chùa có người.
Đi tiếp về phía Hữu Hoà, qua thôn Khúc Thuỷ lại đến thôn Cự Đà, thấy
rất nhiều nhà cũ lẫn nhà mới cổng cũ cổng mới - dấu tích của sự trù phú
trong quá khứ và đang lên trong hiện tại. Mà không trù phú sao được khi
xem địa hình nơi nay: một mặt bám sông ở thế " nhất cận thị nhị cận
giang", một mặt là đồng ruộng rộng rãi.
Cổng chùa Minh Linh -Cự Đà nhỏ nhắn. Tấm biển mừng xuân an lạc vẫn còn, cảm giác như thời gian trôi qua nơi này thật uể oải.
Hai câu treo bên cổng chùa: " Cõi Sa Bà mê muội trầm luân, Phật hiệu
chuyển vang lời giác ngộ; Cửa Tam bảo đạo tình rộng mở, chuông đồng vọng
tiếng từ bi". Đọc xong hai câu này nghĩ mình vẫn còn là người " vọng
tưởng điên đảo".
Trong chùa hoá ra rất rộng rãi. Thật là cái tướng ngoài khiêm cung mà trong khoáng đạt.
Bài ký trên bia












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét